các loại phụ gia dầu nhớt
Top 10 loại dầu nhớt ô tô đáng mua nhất năm 2017. Dầu nhớt Mobil 1 Advanced Fuel Economy. Dầu nhớt Castrol GTX Magnatec. Dầu nhớt Total Quartz dùng cho ôtô. Dầu nhớt Valvoline Full Synthetic MaxLife. Dầu nhớt Pennzoil Platinum. Dầu nhớt Motul 8100 X-CLEAN.
Phụ tùng oto Lucky Auto - Chuyên cung cấp các sản phẩm phụ tùng ô tô chính hiệu: Phụ tùng oto Mecerdes, phụ tùng oto bmw, phụ tùng oto audi - page 3 0931837555 “Số 1 về phụ tùng xe sang”
2. Một số loại phụ gia phổ biến trong dầu nhớt - Phụ gia điều chỉnh ma sát (FM): Khi 2 bề mặt chi tiết tiếp xúc với nhau sẽ xuất hiện một lực cản, lực cản đó là ma sát. Ma sát gây ra sự trầy sướt, mài mòn và giảm hiệu suất làm việc của thiết bị.
App Vay Tiền Nhanh. Phụ gia là những hợp chất hữu cơ, vô cơ, thậm chí là những nguyên tố hóa học được thêm vào chất bôi trơn, nhằm nâng cao hay mang lại những tính chất mong muốn. Thông thường, hàm lượng phụ gia đưa vào là 0,01 – 5%, trong một số trường hợp phụ gia được dùng từ vài phần triệu cho đến vài phần trăm. Do là những hợp chất hoạt động, vì vậy khi tồn tại trong dầu phụ gia có thể tác dụng với nhau và làm mất chức năng của dầu nhờn. Ngược lại, chúng cũng có thể tác động tương hỗ với nhau tạo ra một tính chất mới có lợi cho dầu nhờn, do đó việc phối trộn các phụ gia cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng để loại trừ những hiệu ứng đối kháng và nâng cao tính tác động tương hỗ. Sự tác động tương hỗ giữa phụ gia và dầu gốc cũng là một yếu tố cần được quan tâm khi sản xuất dầu nhờn. Ngày nay, để đạt được các tính năng bôi trơn thì dầu có chứa nhiều phụ gia khác nhau. Chúng có thể được pha riêng lẻ vào dầu nhờn hoặc phối trộn lại với nhau để tạo thành một phụ gia đóng gói rồi mới đưa vào dầu nhờn. Mua nước làm mát tại đà nẵng - Minh Hưng Lợi là lựa chọn hoàn hảo trong từng sản phẩm của bạn. Yêu cầu chung của một loại phụ gia Dễ hòa tan trong dầu. Không hoặc ít hòa tan trong nước. Không ảnh hưởng đến tốc độ nhũ hóa của dầu. Không bị phân hủy bởi nước và kim loại. Không bị bốc hơi ở điều kiện làm việc của hệ thống dầu nhờn. Không làm tăng tính hút ẩm của dầu nhờn. Hoạt tính có thể kiểm tra được. Không độc, rẻ tiền, dễ kiếm. Phụ gia được pha trộn vào dầu gốc Phụ gia tăng chỉ số nhớt Phụ gia được sử dụng để làm tăng chỉ số số nhớt là các polymer tan được trong dầu có tác dụng tăng độ nhớt của dầu mỏ, nghĩa là làm cho tốc độ thay đổi độ nhớt của dầu theo nhiệt độ giảm đi tăng chỉ số độ nhớt cũng như để tạo ra các loại dầu mùa đông. Các phụ gia này được chia làm hai nhóm dạng hydrocacbon và dạng este. Dạng hydrocacbon có các loại copolymer etylen-Propylen, Polyizobutylen, copolymer styren- butadien do hydro hóa, copolymer styren-izopren. Dạng ester gồm polymetacrylat, polyacrylat và các copoly của ester styrenmaleic. Các chất cải thiện chỉ số độ nhớt được sủ dụng rộng rãi nhất hiện nay là các polymer của etylen-propylen có thể lên đến 10% và polyizobutylen hàm lượng nhỏ 0,2 – 0,5%. Phụ gia chống oxy hóa Phụ gia này nhằm mục đích làm chậm quá trình ôxy hóa của dầu tăng độ bền ôxy hóa, khắc phục hiện tượng cháy vòng găng, giảm bớt hiện tượng ăn mòn chi tiết và tạo cặn. Có hai nhóm phụ gia chống ôxy hóa Phụ gia kìm hãm quá trình ôxy hóa dầu ở một lớp dày ngay trong khối dầu nhóm này quan trọng nhất là chất ức chế ôxy hóa, đó là các hợp chất có chứa nhóm phenol hay nhóm amin, cũng có thể chứa 2 nhóm đồng thời như các phenol có chứa nitơ hoặc lưu huỳnh, các kẽm di-ankyl di-thiophotphat ZnDDP, các hợp chất của phốt pho, lưu huỳnh…. Các chất ức chế này có nồng độ thấp, khoảng 0,005 đến 0,5 %. Phụ gia kìm hãm quá trình ôxy hóa dầu ở lớp mỏng trên bề mặt kim loại, đó là các chất thơm nhiệt, được pha với tỷ lệ 0,5 – 3%, chúng sẽ làm chậm quá trình ôxy hóa dầu ở lớp mỏng trên chi tiết động cơ ở nhiệt độ tương đối cao 200-300°C, ngoài ra còn có tác dụng bảo vệ, chống rỉ cho ổ đỡ. Các chất thơm nhiệt được dùng là các hợp chất hữu cơ có chứa phốt pho, lưu huỳnh, kẽm tri-butylaphotphit, di-tiophotphat kẽm…. Các loại chất thơm nhiệt dường như là chất thơm quan trọng nhất vì khi động cơ ngừng hoạt động là lúc dầu ngừng tuần hoàn và khi đó chất thơm tẩy rửa cũng ngừng hoạt động còn chất thơm nhiệt thì ngược lại, sẽ hoạt động mạnh hơn, nó không cho lớp dầu mỏng trên các chi tiết chưa nguội có khả năng biến thành sạn. Phụ gia ức chế gỉ Nếu như động cơ làm việc không có thời gian ngừng lâu thì dầu nhờn làm chức năng chống gỉ tương đối tốt vì khi động cơ ngừng trong thời gian ngắn thì dầu chưa kịp chảy hết khỏi các chi tiết. Nhưng nếu động cơ ngừng lâu hoặc bảo quản lâu ngày thì xylanh, cổ trục khuỷu và các chi tiết đánh bóng hoặc mài sẽ bị gỉ. Gỉ là sự hình thành sắt hydroxit FeOH2, là một dạng đặc biệt quan trọng của ăn mòn trên mặt. Có nhiều hợp chất được dùng để ức chế rỉ như các axit béo, các este của axit napteic và axit béo, các amin hữu cơ, các xà phòng kim loại của axit béo… thường pha vào dầu với tỷ lệ 0,1 – 1%. Phụ gia ức chế tạo bọt Bọt do không khí trộn mạnh vào dầu nhờn ảnh hưởng xấu tới tính chất bôi trơn, làm tăng sự ôxy hóa của chúng, làm dầu bị tổn thất, ngăn cản sự lưu thông của dầu trong sự tuần hoàn, gây ra hiện tượng bôi trơn không đầy đủ. Để tránh hoặc giảm sự tạo bọt người ta sử dụng các loại phụ gia chống bọt. Chúng còn được gọi là các chất hủy hoặc phá bọt. Đó là hợp chất silicon và hydro có khả năng làm tan sủi bọt nhưng tỷ lệ này rất nhỏ 0,001-0,004%. Phụ gia cho dầu nhờn bôi trơn là một hợp phần của công nghệ chất bôi trơn hiện đại, đặc biệt là đối với dầu động cơ. Phụ gia phân tán Dùng để ngăn ngừa, làm chậm quá trình tạo cặn và lắng đọng trong điều kiện hoạt động ở nhiệt độ thấp. Các phụ gia phân tán quan trọng nhất bao gồm Ankenyl-poly-amin-suxinimit. Ankyl-hydrobenzyl-polyamin. Este-polyhydroxy-suxinic. Poly-aminamit-imidazolin. Polyamine suxinimit. Ester-photpholat. Như vậy các chất phân tán được sử dụng đều có chứa các nhóm chức như amin, imít, amít hoặc các nhóm hydroxyl-ester nên các polymer như poly metacrylat cũng cho khả năng phân tán. Mặt khác, do chúng có tính nhớt chất tăng chỉ số độ nhớt nên chúng được sử dụng như các phụ gia phân tán nhiều tác dụng. Lượng chất phân tán được sử dụng nói chung phụ thuộc vào lượng chất rắn cần phải phân tán trong dầu và thường là chiếm từ 0,1 đến 2%. Các dầu bôi trơn cacte chất lượng hàng đầu hiện nay có chứa tới 8% các phụ gia phân tán không tro. Hiệu quả của các chất phân tán là kết quả của sự tác động qua lại đặc biệt giữa tác nhân được chặn và chất phân tán. Phụ gia ức chế ăn mòn Là phụ gia có chức năng làm giảm thiểu việc tạo thành các peoxit hữu cơ, axit và các thành phần ôxy hóa khác làm xuống cấp dầu động cơ, bảo vệ ổ đỡ và các bề mặt khác nhau khỏi ăn mòn. Có thể nói chất ức chế ăn mòn bổ sung trong thực tế có tác dụng như các chất chống ôxy hóa. Các phụ gia này bao gồm di-thiophotphat kim loại đặc biệt là kẽm; sunphonat kim loại và kim loại kiềm cao; và các tác nhân hoạt động bề mặt như các axit béo, amin, axit ankylsuxinic, clo hóa parafin… Phụ gia chống mài mòn Mài mòn là sự tổn thất kim loại giữa các bề mặt chuyển động tương đối với nhau. Yếu tố chính gây mài mòn là do sự tiếp xúc giữa kim loại và kim loại mài mòn dính. Sự có mặt của các hạt mài mài mòn hạt gây ra mài mòn là do ăn mòn hay mài mòn hóa học. Để chống lại sự mài mòn, cần thiết phải cho vào các phụ gia chống mài mòn gồm các nhóm hóa chất có chứa hợp chất phôtpho, hợp chất lưu huỳnh, các dẫn xuất béo có khả năng bám dính trên bề mặt kim loại nhằm giảm bớt sự cọ xát, tỏa nhiệt trong quá trình làm việc. Phụ gia chống mài mòn thường có hàm lượng nhỏ khoảng 0,01%. Phụ gia hỗ trợ ma sát của bộ li hợp Đây là phụ gia chuyên dùng trong dầu nhớt dành riêng cho xe motor, xe máy sử dụng bộ li hợp ướt. Cấu tạo bộ li hợp ướt có các chi tiết bề mặt nhám hầu hết làm từ giấy pha kim loại để khi chất lỏng lọt vào đủ để làm chất xúc tác kết dính cơ học giữa các đĩa chịu lực ma sát khi tiếp xúc với đĩa truyền động, chịu lực ma sát nghỉ và dễ sinh ra ma sát trượt. Phụ gia cải thiện ma sát được thêm vào dầu nhờn, và nó chỉ tạo kết dính đối với chất liệu trên, không gây ma sát cho kim loại. Nồng độ phụ gia này phải tính toán kĩ lưỡng để vừa đủ tạo kết dính trong suốt quá trình vận hành mà không gây ảnh hưởng đến thành phần các phụ gia khác. Phụ gia tẩy rửa Với nồng độ 2 – 10 %, các chất tẩy rửa có thể ngăn cản, loại trừ các cặn không tan trong dầu, cặn sạn, cacbon và các hợp chất chì trên các bộ phận của động cơ đốt trong. Chúng tác dụng bằng cách hấp thụ lên các hạt không tan, giữ chúng lại trong dầu nhằm giảm tối thiểu cặn lắng và giữ sạch các chi tiết của động cơ. Tác nhân quan trọng nhất có tính tẩy rửa là các phụ gia có chứa kim loại, chúng bao gồm sunphonat, phenolat, salixylat. Phần lớn sunphonat, phenolat và salixilat của canxi hoặc magiê được sử dụng như các chất tẩy rửa chứa kim loại. Phụ gia biến tính, giảm ma sát Phụ gia biến tính, giảm ma sát FM có chức năng làm tăng độ bền của màng dầu, giữ bề mặt kim loại tách rời nhau, ngăn không cho lớp dầu bị phá hoại trong điều kiện tải trọng lớn và nhiệt độ cao. Phụ gia biến tính FM làm giảm hệ số ma sát, bảo tồn được năng lượng, tiết kiệm được 2-3% nhiên liệu cho ôtô. Phụ gia FM được sử dụng khi cần tạo ra chuyển động trượt mà không có rung động và khi cần có hệ số ma sát nhỏ nhất. Phụ gia FM bao gồm nhiều loại hợp chất chứa ôxy, nitơ, lưu huỳnh, molipden, đồng và các nguyên tố khác. Các phụ gia này làm tăng độ bền của màng dầu chủ yếu do hiện tượng hấp phụ vật lý, nhờ đó làm giảm ma sát. Phụ gia này thường được pha với tỷ lệ 0,1 – 0,3 %. Phụ gia hạ điểm đông đặc Ở nhiệt độ thấp thì khả năng lưu động của dầu sẽ giảm, vì vậy cần pha các phụ gia hạ điểm đông đặc nhằm hạ thấp nhiệt độ đông đặc của dầu. Cần cho thêm một ít parafin có lượng không quá 1%. Pha chế dầu động cơ Vấn đề pha chế dầu động cơ là một công việc khó khăn, phức tạp, tốn kém, đòi hỏi nhiều ngành kỹ thuật tham gia, nó cũng là sức mạnh cạnh tranh của các công ty dầu nhờn. Vậy thì tỷ lệ phụ gia pha như thế nào với dầu gốc sẽ tạo ra dầu thành phẩm chất lượng cao, không những làm giảm những mặt hạn chế của dầu gốc, nâng cao phẩm cấp đối với các chất đã có sẵn của dầu và tạo cho dầu nhờn những tính chất mới cần thiết. Trong thực tế, một vài loại dầu động cơ có thể chứa hơn 20% phụ gia các loại. Dầu thủy lực tại đà nẵng - Nhà phân phối Minh Hưng Lợi là lựa chọn hoàn hảo trong từng sản phẩm của bạn. Nhanh tay gọi đến hotline để được tư vấn miễn phí ! Nguồn Tổng hợp
Chọn dầu nhớt xe máy thế nào để động cơ khỏe và bền bỉ? Hoạt động trơn tru, vận hành êm ái, bộ máy bền lâu theo năm tháng là đều mà hầu hết người sử dụng xe máy luôn mong muốn. Để thực hiện được tất cả những đều đó, hàng loạt các thương hiệu dầu nhớt đã nghiên cứu và cho ra đời những sản phẩm dầu nhớt xe máy chất lượng cao, giá nhớt xe máy cũng khá đa dạng. Cùng tìm hiểu các thông tin về dầu nhớt ngay dưới đây để tìm ra sản phẩm thích hợp nhất nhé! Dầu nhớt xe máy là gì? Có vai trò thế nào? Dầu nhớt xe máy là hỗn hợp gồm dầu gốc và các loại phụ gia. Chúng được sử dụng nhằm bôi trơn cho động cơ. Vì dầu gốc không đáp ứng được nhiều tính chất cần có cho việc bôi trơn động cơ nên cần phải cho thêm các phụ gia để hỗn hợp này phát huy tối đa tác dụng. Dầu gốc cũng có 3 loại khác nhau gồm dầu gốc khoáng, dầu gốc tổng hợp và dầu gốc bán tổng hợp. Mỗi sản phẩm sẽ có các mức giá khác nhau trong đó dầu tổng hợp thường có giá thành đắt đỏ nhất, sau đó đến dầu bán tổng hợp và dầu gốc khoáng. Tuy nhiên, bạn cũng nên hỏi kỹ người bán xem động cơ của mình thích hợp với loại dầu nhớt xe máy nào để lựa chọn sản phẩm cho đúng. 4 thương hiệu dầu nhớt xe máy được ưa chuộng nhất thị trường Việt Nam Dầu nhớt S-oil luồng gió mát cho động cơ vận hành êm ái Với 75-80 % trọng lượng dầu gốc là dầu khoáng, dầu tổng hợp và dầu bán tổng hợp những chai dầu S-oil có khả năng giúp ổn định, bảo vệ các bộ phận máy chống được sự ăn mòn của các chất dầu cặn trong quá trình xe vận hành. Đồng thời, dầu bôi trơn S-oil còn là cánh tay hỗ trợ đắt lực của người dùng trong việc làm sạch các động cơ, đặc biệt là dầu giúp hạn chế sự tỏa nhiệt của các động cơ do đó nó là luồng gió mát cho động cơ máy vận hành êm ái trong mọi điều kiện địa hinh. Giá dầu nhớt S-oil không quá đắt, sản phẩm phục vụ hiệu quả cho “chú ngựa sắt” của bạn nhất là những loại xe moto 4 thì. Dầu nhớt Motul thích hợp cho mọi loại xe đặc biệt là motor phân khối lớn với cơ chế chống oxi hóa Có thành phần cấu tạo chủ yếu là dầu gốc cùng các chất phụ gia mang đến sự vượt trội hơn hẳn so với các loại dầu nhớt xe máy khác trên thị trường như phụ gia chống oxi hóa và tạo bọt giúp động cơ bên trong ít bị oxi hóa và dầu nhớt không bị khô, đặc trong quá trình tỏa nhiệt của máy, đặc biệt là hai chất phụ gia chống mài mòn và ăn mòn có khả năng thích nghi với mọi loại xe từ xe số đến xe ga và cả những xe moto phân khối lớn làm giảm quá trình ma sát động cơ kéo dài tuổi thọ cho bộ máy. Dầu nhớt Castrol với công nghệ siêu chống nhiệt phù hợp cho mọi điều kiện Dầu nhớt Castrol gia nhập thị trường từ rất lâu và chiếm được khá nhiều lòng tin của người sử dụng, bởi nhiều tính năng ưu việt của sản phẩm cho phép xe vận hành trơn chu, êm ái trên mọi địa hình. Ưu điểm nổi bật của dầu nhớt Castrol là sự pha chế độc đáo với chông nghệ siêu chống nhiệt Super Heat Guard của riêng thương hiệu mình, làm giảm bớt quá trình làm nóng của bộ máy trong khi xe vận hành đường dài và hạn chế thấp những tiếng ồn của động cơ, cho người dùng yêm tâm lướt nhanh, lướt nhẹ trên đường và tiế kiệm nhiên liệu đốt cháy của động cơ. Dầu nhớt Shell bảo vệ động cơ mạnh mẽ Nhớt Shell thuộc thương hiệu Royal Dutch Shell ra đời năm 1907. Sản phẩm vào thị trường Việt Nam với hai dòng sản phẩm chính cho xe máy gồm xe máy 4 thì, 2 thì và xe tay ga. Shell Advance là dòng nhớt phổ biến nhất với PurePlus và công nghệ làm sạch chủ động hiện đại của Shell. Dầu nhớt Shell giúp tận dụng hết khả năng của xe và an toàn khi sử dụng. Khi sử dụng dầu nhớt Shell Advance, xe bạn được bảo vệ động cơ và chạy êm cũng như phản ứng hoàn hảo hơn. Bên cạnh đó, bạn có thể kết hợp việc sử dụng dầu nhớt xe máy cùng với một số phụ kiện xe như mũ bảo hiểm, kính chiếu hậu,... để có thể yên tâm lướt xe bon bon trên mọi nẻo đường. Hướng dẫn chọn dầu nhớt xe máy thích hợp nhất Bạn có thể dựa vào cấp độ nhớt và tính năng API để chọn dầu cho đúng nhất. Cụ thể là Cấp độ nhớt SAE Khi mua dầu nhớt xe máy hoặc ra hàng, bạn sẽ thấy các bình dầu nhớt thường được ký hiệu SAE 10W-30, 15W-40, 20W-50,… Trong đó, số đằng trước W là nhiệt độ giúp động cơ khởi động tốt hơn sau khi được 30 trừ đi, nhưng tính ở nhiệt độ âm. Ví dụ 10W-30 thì loại nhớt sẽ khởi động tốt ở -20 độ C. Trong khi đó, phần số đằng sau W thể hiện độ loãng của nhớt, số càng cao thì nhớt càng đặc. Các dòng xe đi trong nội thành nên sử dụng nhớt loãng để xe dễ khởi động khi bạn dừng đèn đỏ nhiều lần. Trong khi đó, nếu bạn đi đường dài hoặc đi phượt, bạn nên chọn nhớt đặc hơn một chút để nhớt loãng ra trong quá trình vận hành là vừa. Tính năng API Đây là thông số chỉ chất lượng của nhớt, thường là SA đến SN. Chữ cái càng xuất hiện về sau thì sản phẩm sẽ càng cao cấp hơn. Ví dụ dầu nhớt API SN luôn luôn cap cấp hơn SM hoặc SL. Giá dầu nhớt xe máy như thế nào? Dầu nhớt xe máy là một sản phẩm không thể thiết để chiếc xe máy của bạn được vận hành trơn tru và bền bỉ. Tuy nhiên thì giá cả của sản phẩm này không có mức cố định là tuỳ thuộc vào mỗi sản phẩm, công dụng và thương hiệu sản xuất. Tại mỗi cửa hàng khác nhau thì mức giá cho các loại dầu nhớt cũng khác nhau bởi chính sách chiết khấu khác nhau. Bạn cần hiểu rõ về chiếc xe của mình để mua loại dầu nhớt phù hợp tránh việc mua không đúng gây lãng phí tiền. Hoặc bạn có thể hỏi sự trợ giúp tư vấn từ những người bán hoặc thợ để có thể mua được sản phẩm tốt nhất. Nếu bạn muốn mức giá tốt và nhiều chương trình ưu đãi về giá thì bạn hãy truy cập iPrice nhé. Mua dầu nhớt xe máy ở đâu? Bởi đây là sản phẩm cần thiết với mỗi chiếc xe máy nên việc tìm mua sẽ không khó. Tuỳ từng sản phẩm và thương hiệu mà độ phổ biến khác nhau trên thị trường. Nếu bạn thay dầu nhớt xe máy ngoài cửa hàng sửa xe hoặc các trung tâm bảo hành thì bạn có thể mua luôn dầu nhớt tại cửa hàng vì các kĩ thuật viên biết loại nào tốt nhất với nhu cầu xe của bạn. Tuy nhiên bạn vẫn nên cẩn thận vì với một số cửa hàng sửa xe nhỏ lẻ có thể dùng sản phẩm kém chất lượng bán cho bạn. Nếu bạn muốn tự thay dầu nhớt thì bạn nên đến mua tại các đại lý chính hãng để tham khảo và mua dầu nhớt về thay. Việc này đảm bảo được bạn mua đúng sản phẩm cho xe của mình cũng như sản phẩm là chính hãng. Hoặc bạn tìm mua tại iPrice với đa dạng sản phẩm được tổng hợp và so sánh giá từ các trang thương mại điện tử uy tín.
Dầu nhờn thương phẩm để sử dụng cho mục đích bôi trơn là hỗn hợp của dầu gốc và phụ gia. Do đó, chất lượng của dầu bôi trơn ngoài sự phụ thuộc rất nhiều vào dầu gốc, nó còn phụ thuộc vào phụ gia. Phụ gia là những hợp chất hữu cơ, vô cơ, thậm chí là những nguyên tố hóa học được thêm vào chất bôi trơn, nhằm nâng cao hay mang lại những tính chất mong muốn. Thông thường, hàm lượng phụ gia đưa vào là 0,01 – 5%, trong một số trường hợp phụ gia được dùng từ vài phần triệu cho đến vài phần trăm. Do là những hợp chất hoạt động, vì vậy khi tồn tại trong dầu phụ gia có thể tác dụng với nhau và làm mất chức năng của dầu nhờn. Ngược lại, chúng cũng có thể tác động tương hỗ với nhau tạo ra một tính chất mới có lợi cho dầu nhờn, do đó việc phối trộn các phụ gia cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng để loại trừ những hiệu ứng đối kháng và nâng cao tính tác động tương hỗ. Sự tác động tương hỗ giữa phụ gia và dầu gốc cũng là một yếu tố cần được quan tâm khi sản xuất dầu nhờn. Ngày nay, để đạt được các tính năng bôi trơn thì dầu có chứa nhiều phụ gia khác nhau. Chúng có thể được pha riêng lẻ vào dầu nhờn hoặc phối trộn lại với nhau để tạo thành một phụ gia đóng gói rồi mới đưa vào dầu nhờn. Yêu cầu chung của một loại phụ gia * Dễ hòa tan trong dầu. * Không hoặc ít hòa tan trong nước. * Không ảnh hưởng đến tốc độ nhũ hóa của dầu. * Không bị phân hủy bởi nước và kim loại. * Không bị bốc hơi ở điều kiện làm việc của hệ thống dầu nhờn. * Không làm tăng tính hút ẩm của dầu nhờn. * Hoạt tính có thể kiểm tra được. * Không độc, rẻ tiền, dễ kiếm. Các chất phụ gia được trộn vào dầu nhớt + Phụ gia tăng chỉ số nhớt Phụ gia được sử dụng để làm tăng chỉ số số nhớt là các polymer tan được trong dầu có tác dụng tăng độ nhớt của dầu mỏ, nghĩa là làm cho tốc độ thay đổi độ nhớt của dầu theo nhiệt độ giảm đi tăng chỉ số độ nhớt cũng như để tạo ra các loại dầu mùa đông. Các phụ gia này được chia làm hai nhóm dạng hydrocacbon và dạng este. * Dạng hydrocacbon có các loại copolymer etylen-Propylen, Polyizobutylen, copolymer styren- butadien do hydro hóa, copolymer styren-izopren. * Dạng ester gồm polymetacrylat, polyacrylat và các copoly của ester styrenmaleic. Các chất cải thiện chỉ số độ nhớt được sủ dụng rộng rãi nhất hiện nay là các polymer của etylen-propylen có thể lên đến 10% và polyizobutylen hàm lượng nhỏ 0,2 – 0,5%. + Phụ gia chống oxy hóa Phụ gia này nhằm mục đích làm chậm quá trình ôxy hóa của dầu tăng độ bền ôxy hóa, khắc phục hiện tượng cháy vòng găng, giảm bớt hiện tượng ăn mòn chi tiết và tạo cặn. Có hai nhóm phụ gia chống ôxy hóa * Phụ gia kìm hãm quá trình ôxy hóa dầu ở một lớp dày ngay trong khối dầu nhóm này quan trọng nhất là chất ức chế ôxy hóa, đó là các hợp chất có chứa nhóm phenol hay nhóm amin, cũng có thể chứa 2 nhóm đồng thời như các phenol có chứa nitơ hoặc lưu huỳnh, các kẽm di-ankyl di-thiophotphat ZnDDP, các hợp chất của phốt pho, lưu huỳnh…. Các chất ức chế này có nồng độ thấp, khoảng 0,005 đến 0,5 %. C, ngoài ra còn có tác dụng bảo vệ, chống rỉ cho ổ đỡ. Các chất thơm nhiệt được dùng là các hợp chất hữu cơ có chứa phốt pho, lưu huỳnh, kẽm tri-butylaphotphit, di-tiophotphat kẽm….°* Phụ gia kìm hãm quá trình ôxy hóa dầu ở lớp mỏng trên bề mặt kim loại, đó là các chất thơm nhiệt, được pha với tỷ lệ 0,5 – 3%, chúng sẽ làm chậm quá trình ôxy hóa dầu ở lớp mỏng trên chi tiết động cơ ở nhiệt độ tương đối cao 200-300 Các loại chất thơm nhiệt dường như là chất thơm quan trọng nhất vì khi động cơ ngừng hoạt động là lúc dầu ngừng tuần hoàn và khi đó chất thơm tẩy rửa cũng ngừng hoạt động còn chất thơm nhiệt thì ngược lại, sẽ hoạt động mạnh hơn, nó không cho lớp dầu mỏng trên các chi tiết chưa nguội có khả năng biến thành sạn. + Phụ gia tẩy rửa Với nồng độ 2 – 10 %, các chất tẩy rửa có thể ngăn cản, loại trừ các cặn không tan trong dầu, cặn sạn, cacbon và các hợp chất chì trên các bộ phận của động cơ đốt trong. Chúng tác dụng bằng cách hấp thụ lên các hạt không tan, giữ chúng lại trong dầu nhằm giảm tối thiểu cặn lắng và giữ sạch các chi tiết của động cơ. Tác nhân quan trọng nhất có tính tẩy rửa là các phụ gia có chứa kim loại, chúng bao gồm sunphonat, phenolat, salixylat. Phần lớn sunphonat, phenolat và salixilat của canxi hoặc magiê được sử dụng như các chất tẩy rửa chứa kim loại. + Phụ gia phân tán Dùng để ngăn ngừa, làm chậm quá trình tạo cặn và lắng đọng trong điều kiện hoạt động ở nhiệt độ thấp. Các phụ gia phân tán quan trọng nhất bao gồm * Ankenyl-poly-amin-suxinimit. * Ankyl-hydrobenzyl-polyamin. * Este-polyhydroxy-suxinic. * Poly-aminamit-imidazolin. * Polyamine suxinimit. * Ester-photpholat. Như vậy các chất phân tán được sử dụng đều có chứa các nhóm chức như amin, imít, amít hoặc các nhóm hydroxyl-ester nên các polymer như poly metacrylat cũng cho khả năng phân tán. Mặt khác, do chúng có tính nhớt chất tăng chỉ số độ nhớt nên chúng được sử dụng như các phụ gia phân tán nhiều tác dụng. Lượng chất phân tán được sử dụng nói chung phụ thuộc vào lượng chất rắn cần phải phân tán trong dầu và thường là chiếm từ 0,1 đến 2%. Các dầu bôi trơn cacte chất lượng hàng đầu hiện nay có chứa tới 8% các phụ gia phân tán không tro. Hiệu quả của các chất phân tán là kết quả của sự tác động qua lại đặc biệt giữa tác nhân được chặn và chất phân tán. + Phụ gia ức chế ăn mòn Là phụ gia có chức năng làm giảm thiểu việc tạo thành các peoxit hữu cơ, axit và các thành phần ôxy hóa khác làm xuống cấp dầu động cơ, bảo vệ ổ đỡ và các bề mặt khác nhau khỏi ăn mòn. Có thể nói chất ức chế ăn mòn bổ sung trong thực tế có tác dụng như các chất chống ôxy hóa. Các phụ gia này bao gồm di-thiophotphat kim loại đặc biệt là kẽm; sunphonat kim loại và kim loại kiềm cao; và các tác nhân hoạt động bề mặt như các axit béo, amin, axit ankylsuxinic, clo hóa parafin… + Phụ gia ức chế gỉ Nếu như động cơ làm việc không có thời gian ngừng lâu thì dầu nhờn làm chức năng chống gỉ tương đối tốt vì khi động cơ ngừng trong thời gian ngắn thì dầu chưa kịp chảy hết khỏi các chi tiết. Nhưng nếu động cơ ngừng lâu hoặc bảo quản lâu ngày thì xylanh, cổ trục khuỷu và các chi tiết đánh bóng hoặc mài sẽ bị gỉ. Gỉ là sự hình thành sắt hydroxit FeOH2, là một dạng đặc biệt quan trọng của ăn mòn trên mặt. Có nhiều hợp chất được dùng để ức chế rỉ như các axit béo, các este của axit napteic và axit béo, các amin hữu cơ, các xà phòng kim loại của axit béo… thường pha vào dầu với tỷ lệ 0,1 – 1%. + Phụ gia chống mài mòn Mài mòn là sự tổn thất kim loại giữa các bề mặt chuyển động tương đối với nhau. Yếu tố chính gây mài mòn là do sự tiếp xúc giữa kim loại và kim loại mài mòn dính. Sự có mặt của các hạt mài mài mòn hạt gây ra mài mòn là do ăn mòn hay mài mòn hóa học. Để chống lại sự mài mòn, cần thiết phải cho vào các phụ gia chống mài mòn gồm các nhóm hóa chất có chứa hợp chất phôtpho, hợp chất lưu huỳnh, các dẫn xuất béo có khả năng bám dính trên bề mặt kim loại nhằm giảm bớt sự cọ xát, tỏa nhiệt trong quá trình làm việc. Phụ gia chống mài mòn thường có hàm lượng nhỏ khoảng 0,01%. + Phụ gia biến tính, giảm ma sát Phụ gia biến tính, giảm ma sát FM có chức năng làm tăng độ bền của màng dầu, giữ bề mặt kim loại tách rời nhau, ngăn không cho lớp dầu bị phá hoại trong điều kiện tải trọng lớn và nhiệt độ cao. Phụ gia biến tính FM làm giảm hệ số ma sát, bảo tồn được năng lượng, tiết kiệm được 2-3% nhiên liệu cho ôtô. Phụ gia FM được sử dụng khi cần tạo ra chuyển động trượt mà không có rung động và khi cần có hệ số ma sát nhỏ nhất. Phụ gia FM bao gồm nhiều loại hợp chất chứa ôxy, nitơ, lưu huỳnh, molipden, đồng và các nguyên tố khác. Các phhụ gia này làm tăng độ bền của màng dầu chủ yếu do hiện tượng hấp phụ vật lý, nhờ đó làm giảm ma sát. Phụ gia này thường được pha với tỷ lệ 0,1 – 0,3 %. + Phụ gia hạ điểm đông đặc Ở nhiệt độ thấp thì khả năng lưu động của dầu sẽ giảm, vì vậy cần pha các phụ gia hạ điểm đông đặc nhằm hạ thấp nhiệt độ đông đặc của dầu. Cần cho thêm một ít parafin có lượng không quá 1%. + Phụ gia ức chế tạo bọt Bọt do không khí trộn mạnh vào dầu nhờn ảnh hưởng xấu tới tính chất bôi trơn, làm tăng sự ôxy hóa của chúng, làm dầu bị tổn thất, ngăn cản sự lưu thông của dầu trong sự tuần hoàn, gây ra hiện tượng bôi trơn không đầy đủ. Để tránh hoặc giảm sự tạo bọt người ta sử dụng các loại phụ gia chống bọt. Chúng còn được gọi là các chất hủy hoặc phá bọt. Đó là hợp chất silicon và hydro có khả năng làm tan sủi bọt nhưng tỷ lệ này rất nhỏ 0,001-0,004%. Phụ gia cho dầu nhờn bôi trơn là một hợp phần của công nghệ chất bôi trơn hiện đại, đặc biệt là đối với dầu động cơ. + Pha trộn dầu nhớt Vấn đề pha chế dầu động cơ là một công việc khó khăn, phức tạp, tốn kém, đòi hỏi nhiều ngành kỹ thuật tham gia, nó cũng là sức mạnh cạnh tranh của các công ty dầu nhờn. Vậy thì tỷ lệ phụ gia pha như thế nào với dầu gốc sẽ tạo ra dầu thành phẩm chất lượng cao, không những làm giảm những mặt hạn chế của dầu gốc, nâng cao phẩm cấp đối với các chất đã có sẵn của dầu và tạo cho dầu nhờn những tính chất mới cần thiết. Trong thực tế, một vài loại dầu động cơ có thể chứa hơn 20% phụ gia các loại. Thành phần dầu nhờn thương phẩm Trọng lượng, % Dầu gốc 71,5 – 96,2 Chất tẩy rửa 2 – 10 Chất phân tán không tro 1 – 9 Kẽm di-ankyl di-thiophotphat 0,5 – 3 Phụ gia chống ôxy hóa và chống mài mòn 0,1 – 2 Chất biến tính ma sát 0,1 – 3 Chất hạ điểm đông đặc 0,1 – 1,5 Chất ức chế tạo bọt 2 - 15 ppm Nguồn ST
các loại phụ gia dầu nhớt