các phương pháp giảm đau sau mổ

(Tổ Quốc) - Hiện nay, mổ cận đã trở thành 1 trong những phẫu thuật Nhãn khoa vô cùng phổ biến. Tuy nhiên, không ít người vẫn còn phân vân chưa biết chọn phương pháp như thế nào để giảm thiểu biến chứng hậu phẫu cũng như tỷ lệ tái cận. ERCP là một thủ thuật cho phép bác sĩ vừa chẩn đoán và vừa can thiệp các bệnh lý tại các ống tụy và ống mật. Trong đó, lấy sỏi đường mật bằng phương pháp ERCP rất phổ biến hiện nay. Do sỏi đường mật là một vấn đề thường gặp, với ưu điểm xâm lấn tối thiểu, giảm đau đớn hơn rất nhiều so Cận thị ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều mặt của cuộc sống. May mắn là cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, các phương pháp mổ cận đã ra đời và ngày càng được cải tiến, giúp “team 4 mắt” chấm dứt chuỗi ngày khổ sở vì cận thị. App Vay Tiền Nhanh. I. ĐẠI CƯƠNG – Đau sau mổ là một phản ứng sinh bệnh lý phức tạp do nhiều nguyên nhân khác nhau như tổn thương mô, do giãn các tạng hoặc do bệnh lý ung thư, thường biểu hiện trên lâm sàng bằng các dấu hiệu bất thường của hệ thần kinh tự động, tình trạng rối loạn tinh thần hoặc thay đổi tính nết của bệnh nhân. – Mức độ đau sau mổ luôn phụ thuộc vào tính chất và mức độ phẫu thuật, phương pháp vô cảm đã thực hiện, ngoài ra còn liên quan đến tâm sinh lý mà trong đó các yếu tố văn hóa và xã hội cũng có vai trò của nó. Để giảm đau sau mổ tốt cần tính đến những yếu tố này. – Đau sau mổ làm hạn chế vận động của bệnh nhân, tăng nguy cơ tắc mạch, ảnh hưởng tới việc chăm sóc vết thương và tập phục hồi chức năng. – Giảm đau sau mổ là một biện pháp điều trị không những đem lại cảm giác dễ chịu về thể xác cũng như tinh thần, giúp bệnh nhân lấy lại cân bằng tâm – sinh lý, mà còn có ý nghĩa nâng cao chất lượng điều trị chóng lành vết thương, giảm nguy cơ bội nhiễm vết thương sau mổ, vận động sớm, giảm nguy cơ tắc mạch, rút ngắn thời gian nằm viện… ngoài ra giảm đau là vấn đề còn mang ý nghĩa về khía cạnh nhân đạo. – Giảm đau tốt bệnh nhân phục hồi lại sức khoẻ sớm, có thể tự chăm sóc. – Giảm đau tốt sau mổ giúp tập phục hồi chức năng sớm. – Giảm đau tốt có thể tránh diễn tiến thành đau mạn tính. II. ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐAU SAU PHẪU THUẬT – Mức độ đau thay đổi theo vị trí phẫu thuật Phẫu thuật ngực và bụng trên > phẫu thuật bụng dưới > Phẫu thuật ngoại biên và phẫu thuật bề mặt – Mức độ đau thay đổi theo bệnh nhân có 15% bệnh nhân không đau hoặc đau rất ít, có 15% bệnh nhân đau nhiều, các điều trị giảm đau thường áp dụng không đủ giảm đau trong trường hợp này. – Diễn tiến đau Đau sau mổ với mức độ giảm dần Phẫu thuật ngực 4 ngày> bụng trên 3ngày > phẫu thuật bụng dưới 2ngày > phẫu thuật ngoại biên và phẫu thuật bề mặt 1ngày. 1. Dùng thước EVA Echelle visuelle Analogue – Đây là thước có hai mặt chiều dài 10cm, được đóng kín ở hai đầu. Thước đánh giá mức độ đau theo cảm nhận tăng hoặc giảm dần Một mặt không có số một đầu ghi “đau không chị nỗi”, một đầu “không đau”. Trên thước có con trỏ có thể di chuyển được để chỉ mức độ đau bệnh nhân cảm nhận được. Một mặt có chia vạch từ 0 đến 100, đầu 0 tương ứng với “không đau” ở mặt kia, đầu 100 tương ứng với mặt kia “đau không chị nỗi”. Khi bệnh nhân di chuyển con trỏ không biết số ở mặt kia. – Đây là dụng cụ đơn giản nhất được dùng để đánh giá mức độ đau. Dùng thuốc giảm đau khi giá trị này lớn hơn hoặc bằng 30. 2. Dùng thang điểm số Bệnh nhân nêu một số tương ứng với mức độ đau mà họ cảm nhận, số này từ 0 đến 100. Số 0 bệnh nhân không đau, số 100 bệnh nhân đau không chịu nổi. Thước đánh giá mức độ đau theo thang điểm số 3. Thang chia mức độ Mức 0 Không đau Mức 1 Đau mức độ ít Mức 2 Đau mức trung bình Mức 3 Đau nhiều III. KỸ THUẬT GIẢM ĐAU SAU PHẪU THUẬT Lựa chọn kỹ thuật giảm đau tùy thuộc vào mức độ do phẫu thuật gây ra, vị trí của cảm giác đau này, đau khi nghỉ ngơi hay đau khi vận động. Lựa chọn một kỹ thuật giảm đau sau mổ phải tính đến điều kiện tổ chức thực hiện tại phòng chăm sóc sau mổ. Đặc biệt là nhân viên phải được huấn luyện kỹ và đủ về số lượng để đảm bảo theo dõi hiệu quả điều trị và phát hiện sớm các tác dụng không mong muốn, các biến chứng. 1. Đường uống Sau mổ thuốc dùng đường này thường dùng là thuốc giảm đau không thuộc họ morphine. Ưu tiên sử dụng thuốc dùng đường này khi phục hồi nuh động ruột, thường sử dụng cho phẫu thuật bệnh nhân về trong ngày. – Paracetamol có các biệt dược khác nhau trên thị trường dạng chỉ có paracetamol Dafalgan, Efferalgan, ở dạng kết hợp với morphine tác dụng yếu như codeine Dafalgan codeine, Efferalgan codeine, Panadol codeine, ở dạng kết hợp với dextropropoxyphène Di-Antalvic. – Kháng viêm không steroid NSAID sử dụng có có hiệu quả đáng kể hơn paracetamol ở một số phẫu thuật Phẫu thuật hàm mặt, phẫu thuật miệng, phẫu thuật ở xương khớp, phẫu thuật sản khoa. Tuy nhiên những thuốc này có các tác dụng giảm đau mạnh nhưng kèm theo các tác dụng phụ. – Paracetamol và NSAID có thể kết hợp với nhau để giảm đau sau mổ. – Morphine đường uống giải phóng chậm sử dụng sau mổ là không lô-rít vì nhu cầu morphine của từng bệnh nhân khác nhau đôi khi nguy hiểm do làm chậm rỗng dạ dày. Dùng thuốc đường uống sau giai đoạn điều trị đau cấp chuyển về khoa ngoại. 2. Dùng thuốc ngoài đường uống Cần phân biệt – Đường tĩnh mạch là đường dùng các thuốc giảm đau không thuộc họ morphine và morphine dùng theo kỹ thuật giảm đau bệnh nhân tự kiểm soát PCA Patient Controlled Analgesia. – Đường dưới da các thuốc thuộc họ morphine. – Đường tiêm bắp nên bỏ vì gây đau khi tiêm và gây khối máu tụ sau tiêm do dùng thuốc chống đông sau mổ. Thuốc giảm đau không thuộc họ morphine Paracetamol và NSAID được sử dụng đường tĩnh mạch trong các trường hợp đau mức độ nhẹ đến trung bình hoặc kết hợp với morphine trong các trường hợp đau nhiều. Với sự kết hợp này cho phép làm giảm liều của thuốc thuộc họ morphine nên giảm tác dụng không mong muốn. – Paracetamol Liều của paracetamol 15mg/kg/6giờ tổng liều không quá 4g/24giờ, liều thứ nhất và liều thứ hai có thể cách nhau 4giờ. – Kháng viêm không steroid NSAID Diclofenac Voltaren liều 3mg/kg/24giờ chia 2 lần. Kétoprofène Profenid 50mg mỗi 6giờ. NSAID có thể gây nên các tác dụng không mong muốn nên hạn chế sử dụngj đường tiêm trong một thời gian dài. Ở hậu phẫu được khuyên dùng NSAID trong vòng 48giờ và tránh dùng cho những bệnh nhân Bênh lý dạ dày tá tràng, rối loạn đông máu, đang điều trị chống đông, suy thận, giảm thể tích tuần hoàn, suy tim, bệnh nhân lớn tuổi, đang dùng các thuốc ức chế men chuyển, bệnh nhân dị ứng với NSAID. Thuốc thuộc họ morphine Đây là loại thuốc được dùng cho các phẫu thuật được biết có mức độ đau nhiều. Morphine là thuốc thường được lựa chọn. Hai kỹ thuật được sử dụng sau mổ hiện nay giảm đau bệnh nhân tự kiểm soát PCA hoặc tiêm ngắt quảng tĩnh mạch, dưới da. – Dùng đường tĩnh mạch đây là phương pháp đảm bảo giảm đau theo nhu cầu của bệnh nhân. Chuẩn liều morphine Tiêm tĩnh mạch 3mg morphine mỗi 10phút cho đến khi đạt mức độ giảm tốt EVA <30mm Chuyển qua dùng kỹ thuật PCA hoặc tiêm dưới da mỗi 4giờ. Đánh giá lại mức độ đau vào ngày hôm sau. Chú ý khoảng cách giữa hai liều tiêm dưới da kéo dài hơn ở bệnh nhân suy gan, thận, ở bệnh nhân trên 65 tuổi chuẩn liều tĩnh mạch 2mg/5phút. – PCA + Sau khi chuẩn liều như trên chuyển qua dùng morphine tĩnh mạch bệnh nhân tự điều chỉnh liều qua bơm tiêm điện. + Nguyên tắc Khi đau bệnh nhân bấm nút đã nối với bơm tiêm điện đã cài đặt trước một liều nhỏ morphine, nồng độ huyết tương của morphine duy trì ở nồng độ tối thiểu có hiệu quả và nồng độ tối đa nhưng nhỏ hơn nồng độ có thể gây nên buồn ngủ hoặc ức chế hô hấp. So với đường dùng dưới da, kỹ thuật này giảm đau tốt hơn. Tuy nhiên kỹ thuật này không đảm bảo giảm đau hoàn toàn khi ho hoặc tập vận động, trong trường hợp cần tập vận động sớm giảm đau qua catheter ngoài màng cứng là phương pháp được lựa chọn. + Chỉ định, chống chỉ định Khi mức độ đau nhiều cần dùng morphine thì kỹ thuật PCA được khuyến khích. Một vài phẫu thuật gây đau nghiều sau mổ phẫu thuật chỉnh hình, phẫu thuật ngực, phẫu thuật tầng trên mạc treo đại tràng ngang. Chống chỉ định tuyết đối duy nhất là bệnh nhân từ chối hoặc không hiểu nguyên tắc của kỹ thuật bệnh nhân rối loạn tâm thần vận động, bệnh nhân cao tuổi không hiểu cách sử dụng…Bệnh nhân suy gan, bệnh nhân suy thận, bệnh nhân suy hô hấp, bệnh nhân tim mạch cũng có thể áp dụng kỹ thuật này tuy nhiên phải theo dõi sát ở phòng hồi sức tích cực. + Đặt khoảng cách thời gian giữa hai lần bơm cho phép xác định tổng liều trong 1giờ, khoảng 4-5mg/h. Dùng morphine truyền liên tục có nguy cơ quá liều. Morphine hòa để đạt 1mg/ml, bắt đầu dùng với liều 1mg, khoảng cách thời gian giữa hai liều 8-10phút, điều chỉnh khoảng cách thời gian tăng hay rút ngắn sau 3-4giờ tùy vào hiệu quả giảm đau. + Tác dụng không mong muốn Tỷ lệ ức chế hô hấp nặng cần dùng thuốc đối kháng Tỷ lệ nôn, buồn nôn thay đổi từ 10-30%, có thể dùng thuốc chống nôn droperidol Droleptan trong cùng bơm tiêm với morphine. Chậm xuất hiện nhu động ruột do dùng morphine không được mô tả. + Thời gian dùng PCA sau phẫu thuật bụng có thể kéo dài 48-72giờ sau phẫu thuật Dùng đường dưới da Phải đánh giá hiệu quả thường xuyên để điều chỉnh liều phù hợp với nhu cầu của bệnh nhân. Morphine thường được dùng cho các trường hợp đau nhiều, 5-10mg mỗi 4-6giờ. Nalbuphine Nubain dùng cho các trường hợp đau mức độ vừa vì “tác dụng trần” làm hạn chế hiệu quả, 20mg mỗi 6giờ. Buprenorphine Nubain có thể gây ức chế hô hấp khó hồi phục khi điều trị bằng Naloxone, mỗi 8giờ. Giảm đau bằng bơm thuốc qua catheter ngoài màng cứng – Bơm thuốc qua catheter ngoài màng cứng có tác dụng giảm đau tốt hơn dùng đường tĩnh mạch và đường dưới da, có thể chỉ dung morphine hoặc kết hợp thuốc thuộc họ morphine tan nhiều trong mỡ với thuốc tê và/hoặc clonidine. – Thuốc tê hay dùng là bupivacaine với nồng độ hoặc – Morphine Bơm liều 2-4mg qua catheter ngoài màng cứng tác dụng giảm đau hoàn toàn kéo dài 12-24giờ. Tỷ lệ bệnh nhân bị ức chế hô hấp thấp tuy nhiên biến chứng này xuất hiện muộn từ giờ thứ 6 đến giờ thứ 18 sau khi tiêm morphine tủy sống. Điều này đòi hỏi theo dõi hô hấp hàng giờ. Ngoài ra còn có các tác dụng không mong muốn khác như nôn, buồn nôn, bí tiểu. – Fentanyl liều 50-100mg ít ức chế vận động đồng thời làm kéo dài tác dụng của thuốc tê. Nguy cơ ức chế hô hấp kéo dài khoảng 4giờ. – Thuốc tê gây tụt huyết áp và phức chế vận động, clonidine gây buồn ngủ, chậm nhịp tim, tụt huyết áp. Do đó kỹ thuật này cần theo dõi cá thông số tuần hoàn hô hấp hàng giờ trong 4giờ đầu, sau đó theo dõi mỗi 2giờ. – Có thể truyền liên tục thuốc tê qua catheter ngoài màng cứng hoặc áp dụng kỹ thuật giảm đau bệnh nhân tự kiểm soát PCEA Patient Controlled Epidural Analgesia. Giảm đau bằng đặt catheter gây tê đám rối thần kinh hoặc thân thần kinh – Gây tê thân thần kinh hoặc gây tê đám rối thần kinh là phương pháp giảm đau sau mổ tốt. – Kỹ thuật này áp dụng ở chi và thường đặt catheter để bơm thuốc lặp lại hoặc truyền liên tục để kéo dài thời gian giảm đau. Tiêm thuốc vào ổ khớp – Cuối phẫu thuật nội soi khớp gối hay khớp vai, sau khi đã hút khô dịch phẫu thuật viên bơm 20ml bupivacaine nồng độ cho khớp gối và 15ml cho khớp vai. – Thêm 1-2mg morphine làm tăng hiệu quả và thời gian giảm đau. Dùng thuốc đường hậu môn Paracetamol 15mg/kg mỗi 4-6giờ, dạng viên đạn, hàm lượng 80mg, 150mg, Niflunil 20mg/kg/12giờ. III. KẾT LUẬN Có nhiều kỹ thuật giảm đau sau mổ, sự lựa chọn một kỹ thuật nào đó tùy thuộc vào mức độ đau của phẫu thuật, tiền sử của bệnh nhân, có tập phục hồi chức năng sớm sau mổ hay không, khả năng chăm sóc theo dõi của đơn vị hồi sức sau mổ. Khái niệm giảm đau kết hợp hiện nay được chấp nhận và khuyến khích áp dụng rộng rãi. Nguyên tắc chính của cách cho giảm đau này là dùng các thuốc giảm đau ở các nhóm khác nhau có nghĩa là có cơ chế tác dụng khác nhau. Mục đích chính là giảm liều tác dụng không không mong muốn của mỗi thuốc. Lợi ích của sự kết hợp này đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra Kết hợp morphine và thuốc không thuộc họ morphine dùng đường tĩnh mạch, kết hợp thuốc thuộc họ morphine dễ tan trong mỡ với thuốc tê để tiêm ngoài màng cứng SƠ ĐỒ GIẢM ĐAU SAU PHẪU THUẬT Lưu ý Thông tin y học trên website chỉ mang tính tham khảo, bạn không nên tự áp dụng khi chưa có chỉ định của thầy thuốc ! Lượt xem ý Việc đáp ứng với các liệu trình điều trị, máy, thiết bị trợ giúp là khác nhau tùy thuộc cơ địa mỗi người ! Những thông tin y học trên website chỉ mang tính tham khảo, bạn không được tự ý áp dụng nếu chưa được sự chỉ dẫn của thầy thuốc ! Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Dược sĩ Nguyễn Thị Linh - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng. Thuốc giảm đau sau mổ đẻ giúp các bà mẹ giảm những cơn đau do mổ đẻ gây ra, tuy nhiên cần đảm bảo thuốc giảm đau sau mổ đẻ phải ít tiết qua sữa mẹ và ít ảnh hưởng đến trẻ sơ sinh. 1. Lựa chọn thuốc giảm đau sau mổ đẻ như thế nào? Trong khoảng 3 tháng đầu tiên sau khi đẻ mổ, người mẹ sẽ phải đối mặt với các cơn đau bụng nhiều hơn so với bà mẹ sinh thường. Trong khoảng 6 tháng sau khi đẻ mổ, có đến 60% người mẹ bị đau ở vết thương. Ngoài đau vết mổ, người mẹ còn phải đối mặt với cơn đau lưng và đau vùng đáy lựa chọn thuốc giảm đau sau mổ đẻ cho người mẹ dựa trên những yếu tố sauAn toàn cho mẹ và bé bú sữa bảo giúp người mẹ có thể đi lại, vận động nhẹ nhàng và tỉnh táo để có thể chăm sóc thuộc vào tình trạng sức khỏe, tiền sử bệnh của người mẹ và mức độ của cơn đau. Hướng dẫn sử dụng thuốc giảm đau sau mổ đẻ theo Oxford Handbook of Practical Drug Therapy - Duncan Richards và J. K. Aronson Oxford University Press 2005Dựa vào mức độ cơn đau, các loại thuốc giảm đau vết thương được sử dụng như sauĐau nhẹ paracetamolĐau nhẹ - trung bình paracetamol phối hợp opioid nhẹ codein, dihydrocodeinĐau trung bình - nặng paracetamol, NSAID và opioid nhẹ codein, dihydrocodeinĐau nặng NSAID và opioidĐau rất nặng NSAID và morphine tùy bệnh nhânCực đau gây tê ngoài màng cứng opioid và gây tê tại chỗ Thuốc paracetamol dùng giảm đau sau đẻ Hướng dẫn sử dụng thuốc giảm đau sau mổ đẻ của Tổ chức NICE National Institute for Health and Clinical ExcellenceTrong và sau khi mổ tiêm diamorphine tủy sống liều - m, hoặc thay thế bằng cách gây tê ngoài màng cứng cũng với diamorphine nhưng với liều - mg, giúp làm giảm việc sử dụng bổ sung các loại thuốc giảm đau sau mổ đẻ theo tình trạng từng người mẹ mà việc điều trị bằng các loại thuốc giảm đau opioid sẽ khác trường hợp không có chống chỉ định, các loại thuốc giảm đau kháng viêm NSAID nên được sử dụng bổ trợ vì có thể làm giảm lượng vào mức độ của cơn đau, các loại thuốc giảm đau sau mổ đẻ được khuyến cáo sử dụng như sau co-codamol codeine phosphate và paracetamol với ibuprofen dùng khi đau nhiều; co-codamol dùng khi cơn đau mức trung bình; paracetamol dùng khi đau nhẹ. Thuốc diamorphine được dùng tiêm tủy sống Hướng dẫn sử dụng thuốc giảm đau sau mổ đẻ theo Bệnh viện St Michael’s, Bristol, Vương quốc AnhSau khi mổ tiêm morphine 1mg vào thiết bị có chứa dụng cụ bơm thuốc được gắn với dây truyền dịch để đưa thuốc vào cơ thể thông qua tĩnh mạch ở chi trên hoặc chi dưới của người thúc mổ đặt diclofenac 100mg chống chỉ định đối với người mẹ bị tiền sản giật hoặc bị trĩ.3 ngày đầu sau mổ paracetamol và diclofenac. Các loại thuốc giảm đau sau mổ đẻ được Các loại thuốc giảm đau sau mổ đẻ có chứa opioidCodeine Đây là thuốc giảm đau đường uống. Liều dùng là Codeine 60mg 4 - 6 giờ/lần, dùng trong 24 giờ, tối đa là 240mg. Thuốc thường gây tác dụng phụ là buồn Đây là thuốc giảm đau đường uống. Liều dùng là Oxycodone 50mg 4 giờ/lần, dùng trong 24 giờ, tối đa là Đây là loại thuốc giảm đau sau mổ đẻ được tiêm vào trục thần kinh, có tác dụng gây tê chọn lọc cột sống. Nếu tiêm vào cột sống thì khoảng sau 15 phút thuốc có tác dụng, nếu tiêm ngoài màng cứng thì khoảng sau 30 Thuốc có tác dụng ngắn hơn so với morphine Loại thuốc giảm đau sau mổ đẻ này hấp thu tốt khi uống và có tác dụng dài hơn so với morphine Thuốc có tác dụng phụ là gây ra tình trạng buồn ngủ kéo dài do thời gian bán thải của thuốc Thuốc hấp thụ kém khi uống, ngoài ra chất normeperidine còn chuyển hóa gây Đây là loại thuốc dùng đường tiêm hoặc dán. Thuốc Fentanyl Các loại thuốc giảm đau sau mổ đẻ không chứa opioidAcetylsalicylic acid Đây là thuốc được bào chế dưới dạng viên tan trong paracetamol Thuốc có tác dụng giảm đau nhưng không có tính kháng viêm và ít gây tác dụng phụ. Liều tối đa 4g/ Thuốc giảm đau sau mổ đẻ này được uống với liều 400mg trong 72 giờ đầu tiên sau khi mổ, uống 4 - 6 giờ/ Thuốc có tác dụng trong thời gian dài do thời gian bán thải của thuốc Đây là thuốc dùng đường tiêm tiêm bắp, dùng để loại bỏ các loại thuốc giảm đau Loại thuốc này ít có tác dụng trên hệ tiêu hóa và tiểu cầu hơn so với Loại thuốc này có tác dụng trên hệ tiêu Thuốc có tác dụng giảm đau mạnh và hiếm gây tác dụng phụ là ức chế hô hấp. Sử dụng thuốc giảm đau sau đẻ mổ cần tuân thủ theo y lệnh của bác sĩ 3. Một số biện pháp giúp bà mẹ cho con bú giảm đau sau đẻ mổ Ngoài việc được chỉ định sử dụng các thuốc giảm đau nêu trên, một số biện pháp cần lưu ý sau cũng góp phần giúp các bà mẹ giảm đau sau đẻ mổNằm nghiêng khi ngủ và nghỉ ngơi Để cơ thể nhanh chóng phục hồi, trong khoảng 2 tháng sau khi sinh, người mẹ nên nằm nghiêng khi ngủ, và nghỉ ngơi, có thể dùng thêm gối để kê phía sau lưng. Đặc biệt là ngay sau khi sinh, việc nằm nghiêng khi cho con bú sẽ giúp người mẹ giảm các cơn đau do tử cung co lại, đồng thời giảm cảm giác buồn nôn và các cơn đau đầu. Trong giai đoạn này, người mẹ cần dành nhiều thời gian nghỉ ngơi, khi nằm cũng nên nằm nghiêng để tạo cảm giác thoải mái và hạn chế được những va chạm với vết vận động nhẹ nhàng Việc vận động nhẹ nhàng sau khi mổ giúp các mạch máu được lưu thông, tránh tình trạng tụ máu, đồng thời giúp cơ thể nhanh chóng hồi phục, giảm đau sau đẻ vận động quá sức Sau khi sinh mổ trong khoảng 2 tháng, người mẹ không nên vận động quá sức hoặc quá mạnh, bởi lúc này các cơ ở bụng còn yếu. Vận động mạnh hay làm việc quá sức sau khi sinh mổ có thể ảnh hưởng đến vết mổ, gây biến chứng nguy hiểm. Sử dụng dịch vụ thai sản trọn gói tại Vinmec là sự lựa chọn của nhiều chị em hiện nay Thuốc giảm đau sau mổ đẻ được sử dụng tùy vào mức độ của cơn đau và tình trạng sức khỏe của người mẹ. Tuy nhiên, hầu hết những loại thuốc này không ảnh hưởng đến trẻ sơ sinh và người mẹ được khuyên là cho con bú trước khi dùng viện Đa khoa Quốc tế Vinmec áp dụng phương pháp đẻ không đau cùng đội ngũ bác sĩ gây mê hồi sức chuyên nghiệp, các sản phụ sẽ không còn những cơn đau vật vã nữa. Với các sản phụ đẻ mổ sẽ được gây tê thần kinh bằng máy siêu âm trong điều trị đau sau mổ. Kết quả đánh giá hiệu quả giảm đau gần đây nhất cho thấy Toàn bộ sản phụ sinh mổ đều không phải sử dụng morphin, tình trạng đau sau sinh khi vận động và sinh hoạt gần như không còn được ghi nhận Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Chăm sóc vết khâu tầng sinh môn sau sinh Hiểu đúng về giảm đau và chăm sóc sau sinh mổ Các phương pháp giảm đau khi sinh thường dùng KHÁI NIỆM Giảm đau là một thành phần thiết yếu trong chăm sóc bệnh nhân sau các cuộc phẫu thuật, thúc đẩy sự hồi phục sau mổ và làm thay đổi cảm giác, cảm xúc khó chịu, khó ngủ, lo âu, trầm cảm, liên quan đến các tổn thương của mô, thực thể hoặc tiềm ẩn. Đối với mỗi bệnh nhân khác nhau, mức độ đau khác nhau mang tính chất cá nhân, sau mổ thường có những cơn đau cấp trong những ngày đầu và có thể chuyển tiếp thành những cơn đau mãn tính kéo dài. CƠ CHẾ ĐAU Về cơ bản, có hai cơ chế chính dẫn đến cơn đau của bệnh nhân, bao gồm kích thích thụ cảm thể đau, phần lớn liên quan đến viêm, và sự tổn thương tế bào thần kinh ở ngoại biên hoặc trung ương. Ở cơ chế thứ nhất, đau do kích thích nociceptive pain, các thao tác xâm lấn gây tổn thương mô tại vị trí mổ dẫn đến sự phóng thích các chất trung gian hóa học gây đau kinin, histamin, prostaglandin…, các chất này kích thích vào thụ thể đau nociceptor ở đầu tận cùng các dây thần kinh ở các mô đáp ứng. Các tín hiệu này truyền dọc theo sợi C chậm và sợi A-d đến sừng sau tủy sống. Tín hiệu đau sau đó truyền lên đồi thị và võ não. Tại vỏ não, các xung động dẫn truyền cảm giác được xử lý và lưu lại như các trải nghiệm. Trong quá trình tín hiệu đau dẫn truyền từ vỏ não ra ngoại biên trên đường li tâm, các tín hiệu có thể bị suy giảm và ức chế một phần bởi các opioid nội sinh các enkephalin và b-endorphin, g-aminobutyric acid GABA, norepinephrin hoặc serotonin. Sự phong tỏa thụ thể N-methyl-D-aspartat NMDA receptor cũng góp phần làm tăng đáp ứng của các thuốc giảm đau trung ương trên thụ thể m [2, 3]. Ở cơ chế thứ hai, đau sau mổ cũng có thể xảy ra sau các tổn thương dọc theo sợi dẫn truyền cũng như rối loạn cơ chế điều chỉnh cảm giác đau ở thần kinh trung ương. Có thể bị cả chèn ép, tì đè làm nghẽn dẫn truyền của các sợi trục thần kinh. Trường hợp này gọi là đau theo cơ chế thần kinh neuropathic pain. Rất nhiều chất dẫn truyền thần kinh và các chất khác, ví dụ như các cytokin IL-6, IL-8, IL-2β, tham gia vào cơ chế này. Ngoài ra, bệnh nhân sau mổ có thể than phiền đau, nhưng là dạng đau do căn nguyên tâm lý psychogenic pain. Những trường hợp này thường mang yếu tố ám ảnh nhiều hơn cơn đau thực sự với những triệu chứng không điển hình. Bệnh nhân mô tả cơn đau kéo dài dường như không bao giờ chấm dứt mà không thể mô tả rõ ràng. ĐIỀU TRỊ Công tác điều trị đau rất đa dạng nhưng lựa chọn phương pháp giảm đau cần phải cân nhắc dựa trên mức độ đau của bệnh nhân sau mổ, phụ thuộc vào độ tuổi, giới tính và những bệnh lý kèm theo để chọn được phương pháp điều trị đau sau mổ phù hợp nhất. Các cơn đau do cơ chế kích thích thụ cảm đau thường đáp ứng tốt với các thuốc giảm đau kháng viêm non-steroid NSAIDs và các opioid từ yếu đến mạnh. Tuy nhiên các cơn đau do thần kinh hoặc tâm lý đòi hỏi các cơ chế giảm đau đặc thù hơn và thậm chí là các liệu pháp về tâm lý. Giảm đau sau mổ được khuyến cáo phối hợp các nhóm thuốc có cơ chế tác động khác nhau, gọi là giảm đau đa mô thức multimodal pain management, hay multimodal analgesia. Việc phối hợp giúp đạt hiệu quả giảm đau cao hơn, đồng thời giảm các tác dụng có hại so với dùng liều cao một thuốc giảm đau đơn lẻ. Bốn nhóm chính trong điều trị giảm đau, gồm Các thuốc opioid mạnh morphin, pethidin, fentanylCác thuốc opioid yếu tramadol, codeinCác thuốc giảm đau không opioid paracetamol, NSAIDs chọn lọc và không chọn lọcCác thuốc giảm đau phụ pregabalin, gabapentin, ketamin, clonidin. Hướng dẫn phối hợp tham khảo trong giảm đau sau mổNguồn Phác đồ Ngoại khoa BV Chợ Rẫy 2018, trang 1067-1068 Trường hợpTrước phẫu thuậtTrong phẫu thuậtSau phẫu thuậtPhẫu thuật đau ítLựa chọn một – Paracetamol IV 1-2g; – Ketoprofen PO/IV 50-100mg; – Ibuprofen PO 200-400mg – Diclofenac PO 50-100mg Gây tê vết mổ trước rạch da – Lidocain 1%, 10-20ml – Bupivacain 0,25-0,125%, 5-10ml– Hậu phẫu ngày 1 thuốc giảm đau PO dùng liều ngắt quãng Metamizon 500mg và/hoặc paracetamol 0,5-1g phối hợp với 1 trong các NSAID Ketoprofen 50mg/6-8h; Diclofenac 50mg/8h; Ibuprofen 400mg/8h và Meloxicam 7,5-15mg/ đau trung bìnhLựa chọn một – Gabapentin 600mg 1 viên/uống 4h trước phẫu thuật – Pregabalin 50-75 mg 1 viên/ uống 1h trước phẫu thuật Phối hợp cùng một – Lidocain 1,5mg/kg IV chậm trước khởi mê – Ketamin 50mg bolus IV trước khởi mê– Lidocain 1,5-3 mg/kg/h – Tê thấm vết phúc mạc, vết mổ trước đóng bụng bupivacain/ levobupivacain 2mg/kgrobivacain 3mg/kg – Lidocain 1,5-3 mg/kg/h – Tê thấm vết phúc mạc, vết mổ trước đóng bụng bupivacain/ levobupivacain 2mg/kgrobivacain 3mg/kgPT đau nhiềuLựa chọn một – Paracetamol IV 1-2g; – Ketoprofen PO/IV 50-100mg; Uống – Ibuprofen 200-400mg – Diclofenac 50-100mg Phối hợp với – Lidocain 1,5mg/kg IV chậm trước gây mê – Ketamin 50mg bolus trước gây mê– Lidocain 1,5-3 mg/kg/h – Tê thấm vết phúc mạc, vết mổ trước đóng bụng bupivacain/ levobupivacain 2mg/kgrobivacain 3mg/kg– Paracetamol + opioid + NSAID – Lidocain 0,5-1mg/kg/h – PCA – Giảm đau ngoài màng cứng liên tục với PCEA áp dụng đối với phẫu thuật theo chương trình KẾT LUẬN Giảm đau sau mổ là sự cần thiết trong công tác chăm sóc và điều trị đối với bệnh nhân bao gồm công tác tư vấn, chuẩn bị, lên kế hoạch thực hiện các thuốc giảm đau hợp lý. Hiện nay, giảm đau đa mô thức đang dần chứng minh cho hiệu quả lâm sàng cải thiện đau tốt. Phát triển mô hình tiếp cận giảm đau là giải pháp tốt trong công tác điều trị trong lâm sàng. Ngoài ra, còn nhiều phương pháp giảm đau có thể kết hợp như Đông Tây Y, vật lý trị liệu,… Việc sử dụng phương pháp giảm đau đa mô thức sẽ giúp bệnh nhân mau lành vết thương, giảm thời gian điều trị, giảm chi phí và tối ưu hóa quá trình phục hồi. Bs Nguyễn Thanh Lương- Khoa Gây mê hồi sức- Bệnh viện 1A.

các phương pháp giảm đau sau mổ