các đề tài nghiên cứu về chứng khoán
CÁC ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU. 02/12/2021 admin-fme. Mã đề tài. Tên đề tài. 09/2018/TN. Nghiên cứu công nghệ thiết kế chế tạo thiết bị sản xuất bún dạng mini dùng gạo lứt trang bị cho các nhà khách sạn trong và ngoài nước nhằm quảng bá thương hiệu ẩm thu75cVN trên toàn thế
Đối tượng nghiên cứu: các doanh nghiệp của Việt Nam được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam. Phạm vi thu thập dữ liệu: Dữ liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính và báo cáo lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp trong giai đoạn 5 năm từ năm 2017 - 2021.
Bố cục đề tài gồm có 5 chương: Chương 1 - Giới thiệu về đề tài nghiên cứu; Chương 2 - Cơ sở lý luận và các nhân tố ảnh hưởng đến giá chỉ số giá chứng khoán; Chương 3 - Mô hình nghiên cứu; Chương 4 - Kiểm định và đánh giá kết quả; Chương 5 - Kết luận và
App Vay Tiền Nhanh. Tài liệu "Nghiên cứu về thị trường chứng khoán" có mã là 261591, file định dạng zip, có 12 trang, dung lượng file 14 kb. Tài liệu thuộc chuyên mục Luận văn đồ án > Kinh tế > Chứng khoán. Tài liệu thuộc loại ĐồngNội dung Nghiên cứu về thị trường chứng khoánTrước khi tải bạn có thể xem qua phần preview bên dưới. Hệ thống tự động lấy ngẫu nhiên 20% các trang trong tài liệu Nghiên cứu về thị trường chứng khoán để tạo dạng ảnh để hiện thị ra. Ảnh hiển thị dưới dạng slide nên bạn thực hiện chuyển slide để xem hết các lưu ý là do hiển thị ngẫu nhiên nên có thể thấy ngắt quãng một số trang, nhưng trong nội dung file tải về sẽ đầy đủ 12 trang. Chúng tôi khuyễn khích bạn nên xem kỹ phần preview này để chắc chắn đây là tài liệu bạn cần preview Nghiên cứu về thị trường chứng khoánNếu bạn đang xem trên máy tính thì bạn có thể click vào phần ảnh nhỏ phía bên dưới hoặc cũng có thể click vào mũi bên sang trái, sang phải để chuyển nội dung sử dụng điện thoại thì bạn chỉ việc dùng ngón tay gạt sang trái, sang phải để chuyển nội dung slide. Click vào nút bên dưới để xem qua nội dung tài liệu Nghiên cứu về thị trường chứng khoán sử dụng font chữ gì?File sử dụng loại font chữ cơ bản và thông dụng nhất Unicode hoặc là TCVN3. Nếu là font Unicode thì thường máy tính của bạn đã có đủ bộ font này nên bạn sẽ xem được bình thường. Kiểu chữ hay sử dụng của loại font này là Times New Roman. Nếu tài liệu Nghiên cứu về thị trường chứng khoán sử dụng font chữ TCVN3, khi bạn mở lên mà thấy lỗi chữ thì chứng tỏ máy bạn thiếu font chữ này. Bạn thực hiện tải font chữ về máy để đọc được nội thống cung cấp cho bạn bộ cài cập nhật gần như tất cả các font chữ cần thiết, bạn thực hiện tải về và cài đặt theo hướng dẫn rất đơn giản. Link tải bộ cài này ngay phía bên phải nếu bạn sử dụng máy tính hoặc phía dưới nội dung này nếu bạn sử dụng điện thoại. Bạn có thể chuyển font chữ từ Unicode sang TCVN3 hoặc ngược lại bằng cách copy toàn bộ nội dung trong file Nghiên cứu về thị trường chứng khoán vào bộ nhớ đệm và sử dụng chức năng chuyển mã của phần mềm gõ tiếng việt Unikey. Từ khóa và cách tìm các tài liệu liên quan đến Nghiên cứu về thị trường chứng khoánTrên Kho Tri Thức Số, với mỗi từ khóa, chủ đề bạn có thể tìm được rất nhiều tài liệu. Bạn có thể tham khảo hướng dẫn sau đây để tìm được tài liệu phù hợp nhất với bạn. Hệ thống đưa ra gợi ý những từ khóa cho kết quả nhiều nhất là Nghiên cứu về thị, hoặc là Nghiên cứu về thị tìm được nội dung có tiêu đề chính xác nhất bạn có thể sử dụng Nghiên cứu về thị trường có thể gõ có dấu hoặc không dấu như Nghien cuu ve thi, Nghien cuu ve thi truong, Nghien cuu ve thi truong chung, đều cho ra kết quả chính xác. thị Nghiên cứu về thị trường chứng Nghiên trường chứng trường khoán Nghiên cứu về thị trường Nghiên cứu Nghiên cứu Nghiên cứu về Nghiên cứu về thị chứng về thị cứu về Các chức năng trên hệ thống được hướng dẫn đầy đủ và chi tiết nhất qua các video. Bạn click vào nút bên dưới để xem. Có thể tài liệu Nghiên cứu về thị trường chứng khoán sử dụng nhiều loại font chữ mà máy tính bạn chưa có. Bạn click vào nút bên dưới để tải chương trình cài đặt bộ font chữ đầy đủ nhất cho bạn. Nếu phần nội dung, hình ảnh ,... trong tài liệu Nghiên cứu về thị trường chứng khoán có liên quan đến vi phạm bản quyền, bạn vui lòng click bên dưới báo cho chúng tôi biết. Gợi ý liên quan "Nghiên cứu về thị trường chứng khoán" Click xem thêm tài liệu gần giống Chuyên mục chứa tài liệu "Nghiên cứu về thị trường chứng khoán" Tài liệu vừa xem Nghiên cứu về thị trường chứng Nghiên cứu Nghiên cứu về thị Nghiên cứu về Nghiên cứu về thị trường
ArticlePDF AvailableAbstractThông qua phương pháp đo lường biến động suất sinh lợi trên hai Sàn giao dịch chứng khoán niêm yết HoSE và Hà Nội HNX, bài viết này nghiên cứu sự tồn tại của hành vi bầy đàn của nhà đầu tư trên Thị trường chứng khoán Việt Nam từ 01/06/2007 đến 30/11/2015. Kết quả thực nghiệm cho thấy có sự tồn tại hành vi bầy đàn trên cả hai Sàn HoSE và HNX. Ngoài ra, các kết quả phân tích hồi quy còn chỉ ra rằng trong xu hướng thị trường giảm điểm, hành vi bầy đàn được biểu hiện với mức độ mạnh hơn so với lúc thị trường tăng điểm. Các cơ sở khoa học quan trọng này đã giúp tác giả đưa ra một số giải pháp mang tính định hướng nhằm làm giảm tác động của hành vi bầy đàn và góp phần làm gia tăng tính hiệu quả của thị trường chứng khoán. Discover the world's research25+ million members160+ million publication billion citationsJoin for freeContent may be subject to copyright. 96 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT Tập 7, Số 1, 2017 96–108 NGHIÊN CỨU “HÀNH VI BẦY ĐÀN” TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM Đoàn Anh Tuấna, Hoàng Mai Phươnga aKhoa Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Đà Lạt, Lâm Đồng, Việt Nam Lịch sử bài báo Nhận ngày 14 tháng 04 năm 2016 Chỉnh sửa ngày 11 tháng 08 năm 2016 Chấp nhận đăng ngày 10 tháng 10 năm 2016 Tóm tắt Thông qua phương pháp đo lường biến động suất sinh lợi trên hai Sàn giao dịch chứng khoán niêm yết HoSE và Hà Nội HNX, bài viết này nghiên cứu sự tồn tại của hành vi bầy đàn của nhà đầu tư trên Thị trường chứng khoán Việt Nam từ 01/06/2007 đến 30/11/2015. Kết quả thực nghiệm cho thấy có sự tồn tại hành vi bầy đàn trên cả hai Sàn HoSE và HNX. Ngoài ra, các kết quả phân tích hồi quy còn chỉ ra rằng trong xu hướng thị trường giảm điểm, hành vi bầy đàn được biểu hiện với mức độ mạnh hơn so với lúc thị trường tăng điểm. Các cơ sở khoa học quan trọng này đã giúp tác giả đưa ra một số giải pháp mang tính định hướng nhằm làm giảm tác động của hành vi bầy đàn và góp phần làm gia tăng tính hiệu quả của thị trường chứng khoán. Từ khóa CSAD; GARCH; Hành vi bầy đàn; Thị trường chứng khoán Việt Nam. 1. VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT “Hành vi bầy đàn” hay còn gọi là “Hiệu ứng đám đông” là một hiện tượng tâm lý khá phổ biến trong đời sống kinh tế xã hội. Những người bị hiệu ứng đám đông chi phối thường hành động theo những gì mà người khác đang làm ngay cả khi thông tin riêng của họ cho thấy nên hành động theo một cách khác Banerjee, 1992. Đây cũng chính là cách hành xử phổ biến của các nhà đầu tư trên thị trường tài chính. Trên thực tế, không chỉ có quyết định của các nhà đầu tư nhỏ lẻ bị ảnh hưởng và chi phối bởi động thái của nhà đầu tư khác mà ngay cả các nhà đầu tư tổ chức cũng không nằm ngoài vòng xoay này. Các nhà đầu tư nhỏ lẻ dễ dàng bị cuốn vào các “trò chơi tạo xu thế” hay các trò “làm giá” do những giới hạn trong việc sở hữu thông tin hay cố tình bỏ qua thông tin riêng mà thiên về kết quả quan sát hành động của các nhà đầu tư khác. Ngay cả, các tổ chức đầu tư được dẫn dắt và quản lý bởi những cá nhân mà kết quả hoạt động của họ luôn được đánh giá Tác giả liên hệ Email tuanda Đoàn Anh Tuấn và Hoàng Mai Phương 97 thông qua việc so sánh với những người có vị trí và trình độ tương tự hoặc cao hơn, cũng lựa chọn hành động theo đám đông nhằm cải thiện hình ảnh nghề nghiệp hoặc đạt được lợi ích lớn hơn so với khi thực hiện hành động một cách riêng lẻ. Những nghiên cứu gần đây cho thấy các hiện tượng bất thường của giá chứng khoán xuất phát từ sự bất cân xứng thông tin trên thị trường giữa những nhà đầu tư cá nhân và những nhà đầu tư tổ chức ngày càng gia tăng Đoàn, 2010. Đó là tình trạng một hoặc một nhóm các nhà đầu tư sở hữu được thông tin riêng so với phần còn lại của thị trường, hoặc có nhiều thông tin đại chúng hơn về một công ty nào đó Kim & Verrecchia, 1997. Điều này khiến cho hàng loạt cổ phiếu được mua bán theo xu hướng khiến giá của chúng được thổi phồng quá mức hoặc sụt giảm hơn một nửa giá trị chỉ trong một vài ngày khiến thị trường hoạt động kém hiệu quả, trong nhiều trường hợp dẫn đến mất ổn định thị trường. Đây là hiện tượng chung trên các thị trường mới nổi do tâm lý của các nhà đầu tư chưa thực sự vững vàng và dễ bị tác động bởi những yếu tố xu hướng bên ngoài. Mô hình lý thuyết về tâm lý bầy đàn đã được phát triển bởi nhiều tác giả như Bikhchandani và ctg. 1992; Scharfstein và Stein 1990; hay Devenow và Welch 1996. Riêng nghiên cứu thực nghiệm tập trung chủ yếu vào kiểm định sự tồn tại của tâm lý bầy đàn, trong đó đáng chú ý là công trình nghiên cứu của các nhà quản lý quỹ Lakonishok và ctg. 1992; Wermers 1999; và các nhà phân tích tài chính Trueman 1994; Hong và ctg. 2000; Gleason và Lee 2003; và Clement và Tse 2005. Nổi bật trong các phương pháp định lượng tâm lý bầy đàn phải kể đến hai nghiên cứu của Christie và Huang 1995 gọi tắt phương pháp này là CH và của Chang và ctg. 2000 gọi tắt là CCK. Liên quan đến hành vi bầy đàn tại Thị trường chứng khoán Việt Nam, có các nghiên cứu được đánh giá cao như công trình nghiên cứu của tác giả Trần 2010, Hồ 2007 hay của tác giả Lê 2007. Nhìn chung, các kết quả đạt được từ các công trình trên đều công nhận hành vi bầy đàn có tồn tại trên Thị trường chứng khoán Việt Nam. Tuy nhiên, do sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau, cũng như sử dụng dữ liệu ở những khoảng thời điểm khác nhau nên kết quả đo lường mức độ tác động của hành vi bầy đàn giữa các tác giả còn chưa được thống nhất. 98 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ] 2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Bài viết này nghiên cứu sự tồn tại của hành vi bầy đàn của các nhà đầu tư trên Thị trường chứng khoán Việt Nam, thông qua phương pháp đo lường biến động suất sinh lợi trên thị trường chứng khoán. Cụ thể, tác giả tập trung phân tích và kiểm định sự tồn tại tâm lý bầy đàn của nhà đầu tư trên hai Sàn giao dịch chứng khoán niêm yết HoSE và Hà Nội HNX, đồng thời đi sâu phân tích hiện tượng bất cân xứng của hành vi bầy đàn xảy ra trong hai xu hướng thị trường tăng và giảm điểm. Vì thông tin tốt thường tạo ra sự tăng giá cổ phiếu và ngay sau đó giá của cổ phiếu nhỏ đã thể hiện hết thông tin tốt trong đó. Điều này có thể làm tăng thêm sự phân tán của lợi nhuận thị trường trong trường hợp thị trường đi lên mà không thể xảy ra khi thị trường đi xuống. Do đó, sự phân tán này thường được dùng làm cơ sở để giải thích vì sao hành vi bầy đàn diễn ra mạnh mẽ đối với thị trường giảm điểm mà đặc biệt là đối với cổ phiếu nhỏ. Nội dung nghiên cứu này đóng góp những cơ sở khoa học quan trọng không chỉ đối với các nhà đầu tư, nhà tạo lập thị trường mà còn rất hữu ích đối với các nhà quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán, bởi hiện tượng tâm lý đám đông trong đầu tư chứng khoán tác động lớn đến lợi nhuận của các nhà đầu tư và sự phát triển bền vững của Thị trường chứng khoán Việt Nam. 3. DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH Nguồn dữ liệu Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng hệ thống dữ liệu về giá chứng khoán được cập nhật theo ngày daily để tính lợi nhuận biến động giá cũng như kiểm định các chỉ tiêu khác về hiện tượng tâm lý bầy đàn. Nguồn dữ liệu giá chứng khoán được cung cấp bởi Sở Giao dịch chứng khoán TP. HCM và Sở Giao dịch chứng khoán TP. Hà Nội. Nguồn dữ liệu về giá chứng khoán được cung cấp bởi Sở giao dịch chứng khoán Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và các chỉ số đặc trưng của từng loại chứng khoán được cung cấp bởi Công ty chứng khoán Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam Dữ liệu được thu thập từ ngày 01 tháng 6 năm 2007 đến ngày 30 tháng 11 năm 2015 bao gồm 70 công ty có điều kiện dữ liệu liên tục Đoàn Anh Tuấn và Hoàng Mai Phương 99 trên hai sàn chứng khoán 40 công ty tại HoSE và 30 công ty tại HNX tương ứng với hơn 2116 quan sát. Phương pháp phân tích Để xác định sự tồn tại của hành vi bầy đàn, tác giả kết hợp hai phương pháp định lượng nổi bật của tác giả Christie và Huang 1995 gọi tắt phương pháp này là CH và của Chang và ctg. 2000 gọi tắt là CCK. Bắt đầu từ các luận giải cho rằng một quyết định mua hay bán của các nhà đầu tư phụ thuộc vào tổng các điều kiện của thị trường. Trong điều kiện bình thường, mô hình định giá tài sản dự đoán tần suất lợi nhuận sẽ tăng lên với trị tuyệt đối của lợi nhuận thị trường, bởi lẽ nhà đầu tư cá nhân đang giao dịch dựa trên những thông tin được phân tích bởi chính họ. Tuy nhiên, vào thời điểm thị trường biến động mạnh, nhận định của nhà đầu tư cá nhân phần lớn bị mất phương hướng và quyết định đầu tư của họ phần lớn phụ thuộc vào những hành động của số đông trên thị trường. Vì thế Christie và Huang 1995 cho rằng tâm lý bầy đàn sẽ chỉ rõ ràng vào thời điểm mà thị trường có những biến động mạnh với lợi nhuận đột biến xảy ra ở danh mục thị trường. Sau đó, tác giả kế thừa mô hình của Chang và ctg. 2000 nhằm đo lường và kiểm định hiện tượng tâm lý bầy đàn với mức độ phân phối của lợi nhuận thị trường như trong công thức 1. CSADt = 1 Trong đó CSADt là trị tuyệt đối của độ lệch lợi nhuận ở thời điểm t Cross-Sectional Absolute Deviation, chỉ tiêu này đo lường sự phân tán của lợi nhuận. Cụ thể được tính qua công thức 2. CSADt = 2 Với Ri,t = logpt - log pt-1, là lợi nhuận biến động giá của cổ phiếu công ty i tại thời điểm t; Rm,t là bình quân lợi nhuận biến động giá của N công ty trong danh mục tại thời điểm t. Theo ý nghĩa kinh tế của phương trình 1, mối quan hệ tuyến tính giữa mức độ phân tán giữa lợi nhuận từng cổ phiếu riêng lẻ và lợi nhuận thị trường được xem là mô hình định giá tài sản. Theo đó, một sự tăng lên trên giá trị tuyệt đối của lợi nhuận thị 100 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ] trường sẽ dẫn đến kết quả tăng độ phân tán lợi nhuận của các cổ phiếu riêng lẻ. Vì thế, một hệ số dương và có ý nghĩa thống kê sẽ là một tham số dự báo không thể thiếu đối với mô hình định giá tài sản. Trong mô hình CCK, khi giá trị tuyệt đối của lợi nhuận trong phương trình 2 tăng lên, đồng nghĩa với việc có hiện tượng phân tán lợi nhuận của các nhà đầu tư. Vào thời điểm thị trường bị biến động giá mạnh, phản ứng của nhà đầu tư trên mức bình thường dẫn tới hiện tượng tâm lý bầy đàn. Hiện tượng tâm lý này làm tăng mối tương quan giữa những kênh tạo ra lợi nhuận cho các nhà đầu tư và góp phần làm giảm khả năng tạo lợi nhuận đối với nhân tố lợi nhuận thị trường Rm. Cũng vì lý do này mà mô hình có bao gồm nhân tố tạo nên đường cong phi tuyến tính và khi nghiên cứu thực nghiệm nếu kết quả hệ số là âm thì đồng nghĩa rằng có tồn tại hiện tượng tâm lý bầy đàn trên thị trường chứng khoán. Trong trường hợp này, nhà đầu tư bị thiêng về hành động giống nhau theo xu hướng thị trường và đánh mất sự nhận định của chính mình mỗi khi thị trường có sự biến động lớn. Phương pháp CH được sử dụng để tính CSADt mà theo đó không đòi hỏi phải ước lượng hệ số beta. Dễ thấy rằng, đối với phương pháp CCK, việc tính CSADt được dựa vào mô hình định giá tài sản CAPM trong khi hệ số beta β của mô hình này còn gặp nhiều tranh cãi. Hơn nữa, phương pháp CCK giả định rằng rủi ro không thay đổi theo thời gian và đo lường rủi ro phải được đặt trong một khoảng thời gian cụ thể, trên thực tế rủi ro thường hay thay đổi theo thời gian. Để kiểm tra sự ảnh hưởng của hiện tượng bất cân xứng thông tin, tác giả đã sử dụng các phương trình 3 và 4 3 4 Trong đó là bình quân lợi nhuận biến động giá của N công ty trong danh mục tại thời điểm t trong trường hợp thị trường tăng giá; là CSADt ở thời điểm t trong trường hợp thị trường tăng giá tương ứng với . Tương tự vậy, ký hiệu Đoàn Anh Tuấn và Hoàng Mai Phương 101 “DOWN” diễn tả các tham số đối với thị trường giảm giá. Đồng thời các giá trị tuyệt đối của và được dùng làm cơ sở so sánh hệ số tuyến tính của phương trình 3 và 4. Trong quá trình nghiên cứu sự tác động âm và dương của lợi nhuận thị trường bình quân, Rm,t , đến sự phân tán lợi nhuận thị trường sẽ được kiểm định một cách riêng lẻ. Những mô hình này cho phép xem xét hành vi bầy đàn trong điều kiện xu hướng thị trường là tăng hay giảm. Thị trường được xem là tăng điểm khi mà lợi nhuận bình quân bằng trọng số lớn hơn không, ngược lại sẽ là thị trường giảm điểm. 4. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH Phân tích thống kê mô tả Bảng 1 và Bảng 2 mô tả các kết quả thống kê đối với lợi nhuận thị trường hàng ngày và bình quân mức phân tán của lợi nhuận cùng với các độ lệch chuẩn liên quan cho mỗi sàn giao dịch chứng khoán. Bảng kê mô tả của lợi nhuận thị trường hàng ngày và trị tuyệt đối của độ phân tán lợi nhuận CSAD từ 1/6/2007 đến 30/11/2015 tại HoSE Ghi chú *** , **, * Có ý nghĩa thống kê lần lượt ở các mức sai số 1%, 5% và 10%. aLợi nhuận thị trường tại thời điểm t khi thị trường tăng điểm . %. bLợi nhuận thị trường tại thời điểm t khi thị trường giảm điểm . cCSAD tại thời điểm t khi . dCSAD tại thời điểm t khi Ngoài ra, các bảng trên cũng thể hiện kết quả thống kê tóm tắt được phân loại khi thị trường tăng và giảm điểm cho hai sàn chứng khoán. Lợi nhuận bình quân của thị 102 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ] Trường chứng khoán Việt Nam HoSE trong giai đoạn nghiên cứu đạt âm trong khi tại sàn Hà nội HNX chỉ tiêu này là âm Chỉ tiêu này nếu được tính riêng cho thị trường tăng điểm, tại sàn HoSE đạt và HNX đạt còn đối với Thị trường giảm điểm kết quả này tại hai sàn tương ứng là âm và âm Khi thị trường được chia ra hai phần tăng điểm và giảm điểm, tổng số quan sát cho mỗi phần tương ứng là 1036 và 1080 HoSE và 955 và 1161 HNX. Bảng kê mô tả của lợi nhuận thị trường hàng ngày và trị tuyệt đối của độ phân tán lợi nhuận CSAD từ 1/6/2007 đến 30/11/2015 tại HNX Ghi chú *** , **, * Có ý nghĩa thống kê lần lượt ở các mức sai số 1%, 5% và 10%. aLợi nhuận thị trường tại thời điểm t khi thị trường tăng điểm . %. bLợi nhuận thị trường tại thời điểm t khi thị trường giảm điểm . cCSAD tại thời điểm t khi . dCSAD tại thời điểm t khi Thị trường chứng khoán Việt Nam cũng chỉ ra một mức biến động cao với độ lệch chuẩn của lợi nhuận tại sàn HoSE là /ngày và tại HNX là Nếu xét biến động riêng cho từng phần tăng và giảm điểm, sàn HoSE đạt tương ứng là và trong khi đó sàn HNX đạt ở mức cao hơn và Lợi nhuận lớn nhất tại hai sàn lần lượt là và trong khi lợi nhuận nhỏ nhất tại hai sàn là âm và âm Mức phân tán trung bình của lợi nhuận của toàn bộ thị trường là ngày tại sàn HoSE và tại sàn HNX, với sai số chuẩn lần lượt là và Với kết quả ban đầu của CSAD-UP và CSAD-DOWN cho thấy trong thị trường tăng điểm mức độ phân tán của lợi nhuận thị trường cao hơn so với thị trường giảm điểm Đoàn Anh Tuấn và Hoàng Mai Phương 103 Con số này cũng nhất quán với kết thống kê tại sàn HNX khi CSAD-UP là và CSAD-DOWN là Đây cũng là bằng chứng ban đầu chứng tỏ các nhà đầu tư thường gặp phải vấn đề tâm lý “ngại rủi ro”. Theo lý thuyết hành vi này, so với những gì đạt được trong thị trường tăng điểm, nhà đầu tư thường lo lắng ở mức độ lớn hơn khi đối mặt những rủi ro tiềm tàng trong thị trường giảm điểm. Chính điều này thường dẫn đến kết quả hành vi bầy đàn tại thị trường giảm điểm là lớn hơn so với thị trường tăng điểm độ phân tán lợi nhuận trong thị trường giảm điểm thường nhỏ hơn. Vấn đề này cũng sẽ được phân tích và kiểm định chi tiết trong phần tiếp theo của bài viết này. Dựa vào kết quả p-value của phương pháp kiểm định Jarque-Bera, ngoại trừ lợi nhuận thị trường sàn HoSE, phân phối phần dư của lợi nhuận thị trường của HNX và độ phân tán của hai sàn giao dịch không phải là phân phối chuẩn. Các giá trị về độ nghiêng và độ nhọn của các biến dữ liệu cho thấy dãy phân phối của các biến này có đặc điểm của độ nhọn vượt chuẩn leptokurtosis. Điều này giải thích rằng các thủ tục kiểm định sau này bằng phương pháp OLS phải được quan tâm kỹ lưỡng đến các giả định về phân phối chuẩn. Về sự tồn tại của hành vi bầy đàn Phần mục này trình bày các kết quả liên quan được ước lượng bằng các phương pháp khác nhau. Các kết quả của phương pháp ước lượng bình quân bé nhất OLS trong bảng 3 nhằm mục đích kiểm tra hành vi bầy đàn tổng hợp toàn thị trường với tất cả các mẫu thu thập. Hệ số ước lượng của biến có ý nghĩa thống kê thể hiện một mối quan hệ tuyến tính giữa lợi nhuận thị trường và sự phân tán của nó phù hợp với mô hình định giá tài sản. Giá trị âm của hệ số ước lượng biến đạt được cho cả hai sàn chứng khoán HoSE và HNX đã chỉ ra rằng hành vi bầy đàn có tồn tại trên Thị trường chứng khoán Việt Nam. Giá trị R bình phương của phương pháp OLS đạt tại sàn HoSE và tại sàn HNX nói lên rằng khoảng thay đổi trong độ phân tán lợi nhuận thời điểm CSAD có thể được giải thích bằng lợi nhuận thị trường hằng ngày và giá trị bình phương của nó. Khi mô hình ban đầu được ước lượng lại bằng phương pháp Newey-West nhằm khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan, kết quả tại cột thứ 3 của Bảng 3 cho thấy có một số thay đổi về sai số chuẩn cũng như thông số kiểm định t-statistic 104 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ] so với phương pháp trước đó. Mặc dù phương pháp Newey-West giải quyết vấn đề về sai số chuẩn và làm cho kết quả ước lượng hợp lý hơn, nhưng trong trường hợp này kết quả của các tham số được ước lượng không thay đổi ý nghĩa so với kết quả hồi quy trước đó. Ở bước tiếp theo tác giả tiếp tục ước lượng phương trình hồi quy bằng mô hình GARCH 1,1, là mô hình được các nhà khoa học đánh giá khá cao trong xử lý các dữ liệu tài chính và chuỗi thời gian. Kết quả ước lượng một lần nữa cho thấy hệ số hồi quy của biến đạt giá trị âm và có ý nghĩa thống kê ở mức cao mức 1% cho cả hai Sàn giao dịch chứng khoán HoSE và HNX. Điều này có thể khẳng định rằng sự tồn tại của hành vi bầy đàn trên Thị trường chứng khoán Việt Nam. Kết quả này cũng nhất quán với các kết quả nghiên cứu của Chang và ctg. 2000 về hành vi bầy đàn tại các thị trường chứng khoán mới nổi như Đài Loan, Hàn Quốc cũng như các kết quả nghiên cứu tại Việt Nam của Kallinterakis 2007 và của My và Truong 2011. Bảng 3. Phân tích hành vi bầy đàn trên Thị trường chứng khoán Việt Nam Phương pháp OLS có kết hợp Newey-West Absolute market return Square term of market return Conditional variance equation Ghi chú *** , **, * Có ý nghĩa thống kê lần lượt ở các mức sai số 1%, 5% và 10%. Phương trình ước lượng được sử dụng trong bảng trên là . Giá trị trong dấu ngoặc đơn là giá trị thống kê t-statistic đối với phương pháp OLS và z-statistic đối với mô hình GARCH. Nguồn Tính toán của tác giả. Đoàn Anh Tuấn và Hoàng Mai Phương 105 Đánh giá sự bất cân xứng trong hành vi bầy đàn lúc thị trường tăng và giảm điểm Kết quả kiểm định sự bất cân xứng của hành vi bầy đàn tại Thị trường chứng khoán Việt Nam giữa xu hướng thị trường tăng và giảm được thể hiện trong Bảng 4. Mặc dù mô hình GARCH 1,1 có nhiều vượt trội trong việc ước lượng các hệ số thống kê đối với mô hình tài chính chuỗi thời gian, nhưng vì mô hình GARCH đòi hỏi mẫu thống kê phải là liên tục cho nên ta không thể áp dụng mô hình này trong trường hợp số liệu thị trường được chia ra thành phần gồm thị trường tăng và giảm điểm. Thay vào đó, ta dùng mô hình ước lượng OLS có kết hợp phương pháp Newey-West để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan của mô hình. Tại sàn HoSE, có thể thấy rằng hệ số hồi quy của biến mang số âm và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% trong cả hai mô hình thị trường tăng và giảm điểm, thể hiện sự tồn tại hành vi bầy đàn của các nhà đầu tư trong cả hai xu hướng. So sánh sự khác biệt của hành vi bầy đàn đối với hai xu hướng tăng và giảm được kiểm định qua phương pháp Quandt-Andrews breakpoint đối với hai hệ số và . Kết quả cho thấy có sự khác biệt ở mức ý nghĩa 1% F-statistic là giữa hành vi bầy đàn lúc thị trường tăng và giảm tại Sàn HoSE. Kết hợp so sánh với kết quả hệ số hồi quy biến của hai cột 1 và 2 cho phép ta khẳng định rằng hành vi bầy đàn lúc thị trường giảm xuất hiện mạnh hơn so với thị trường tăng điểm. Đối với Sàn chứng khoán HNX, hành vi bầy đàn của các nhà đầu tư cũng được xác định tồn tại trong cả hai xu hướng thị trường tăng và giảm điểm. Giống như Sàn HoSE, hệ số hồi quy của tại hai cột 3 và 4 đều có giá trị âm và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Kết quả so sánh hai hệ số và còn cho thấy có sự khác biệt lớn trong hành vi bầy đàn giữa hai xu hướng thị trường, điều đó được khẳng định qua hệ số F-statistic bằng và đồng thời có ý nghĩa thống kê cao ở mức 1%. Như vậy, các kết quả kiểm định Quandt-Andrews một lần nữa xác định và ủng hộ các nhận định trước đây, cho rằng hành vi bầy đàn trong xu thế thị trường giảm điểm thường xuất hiện với cường độ mạnh hơn. 106 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ] Bảng 4. Phân tích hành vi bầy đàn trong thị trường tăng điểm và giảm điểm Phương pháp OLS có kết hợp Newey-West HoSE Phương pháp OLS có kết hợp Newey-West HNX Absolute market return Square term of market return Quandt-Andrews breakpoint test H0 F-statistic Ghi chú ***, **, * Có ý nghĩa thống kê lần lượt ở các mức sai số 1%, 5% và 10%. Phương trình ước lượng được sử dụng trong bảng trên là và . Giá trị trong dấu ngoặc đơn là giá trị thống kê t-statistic. Nguồn Tính toán của tác giả. 5. KẾT LUẬN Với những thị trường mà thông tin giao dịch của các nhà đầu tư rất khó để tiếp cận như Việt Nam thì việc sử dụng phương pháp tiếp cận hành vi bầy đàn dựa trên độ phân tán tỷ suất sinh lợi của các chứng khoán so với tỷ suất sinh lợi thị trường của Chang và ctg. 2000 để tìm chứng cứ bầy đàn được xem là tương đối hiệu quả. Theo phương pháp này, tác giả sẽ hồi quy độ phân tán trung bình của tỷ suất sinh lợi các chứng khoán giao dịch trên HoSE từ 01/06/2007 đến 30/11/2015 so với tỷ suất sinh lợi thị trường theo tỷ suất sinh lợi tuyệt đối của thị trường và tỷ suất sinh lợi thị trường bình phương trong cùng thời kỳ. Kết quả thực nghiệm đã chứng tỏ có sự tồn tại hành vi bầy đàn trên cả hai sàn HoSE và HNX của Thị trường chứng khoán Việt Nam. Bên cạnh đó, các kết quả phân tích hồi quy còn chỉ ra rằng trong xu hướng thị trường giảm điểm, hành vi bầy đàn luôn biểu hiện với mức độ mạnh hơn so với thị trường tăng điểm. Đoàn Anh Tuấn và Hoàng Mai Phương 107 Mặc dù hành vi bầy đàn là một dạng tâm lý của con người nên không thể triệt tiêu hoàn toàn, nhưng với những giải pháp phù hợp, hành vi bầy đàn không hợp lý sẽ được hạn chế, từ đó góp phần giảm bớt tình trạng bong bóng và những đổ vỡ mang tính hệ thống của thị trường, giúp thị trường phát triển ổn định và chuyên nghiệp hơn. Để giảm tác động của hành vi bầy đàn đối với Thị trường chứng khoán, các cơ quan quản lý thị trường cần quan tâm hơn nữa đến các giải pháp định hướng như Đổi mới cơ chế minh bạch hóa thông tin và nâng cao hiệu lực của các quy định pháp luật trên thị trường chứng khoán; Xem xét thay đổi chính sách biên độ giao dịch, cải thiện hạ tầng thông tin; Nâng cao năng lực nhà đầu tư và khuyến khích phát triển nhà đầu tư tổ chức. TÀI LIỆU THAM KHẢO Banerjee, A. V. 1992. A simple-model of herd behavior. Quarterly Journal of Economics, 1073, 797-817. Bikhchandani, S., Hirshleifer, D., & Welch, I. 1992. A theory of fads, fashion, custom, and cultural change as informational cascades. Journal of Political Economy, 100, 992-1026. Chang, E. C., Cheng, J. W., & Khorana, A. 2000. An examination of herd behavior in equity markets An international perspective. Journal of Banking and Finance, 24, 1651-1679. Christie, W. G., & Huang, R. D. 1995. Following the pied piper Do individual returns herd around the market? Financial Analysts Journal, 51, 31-37. Clement, M. B., & Tse, S. Y. 2005. Financial analyst characteristics and herding behavior in forecasting. Journal of Finance, 60, 307-341. Devenow, A., & Welch, I. 1996. Rational herding in financial economics. European Economic Review, 40, 603-615. Đoàn, A. T. 2010. Nâng cao tính hiệu quả của Thị trường chứng khoán Việt Nam. Tạp chí Kinh tế & Dự báo, 16, 17-19. Gleason, C. A., & Lee, C. M. C. 2003. Analyst forecast revisions and market price discovery. The Accounting Review, 78, 193-225. Hồ, Q. T. 2007. Tài chính hành vi Nghiên cứu ứng dụng tâm lý học vào tài chính. Tạp chí Kinh tế Phát triển, 3, 27-30. Hong, H., Kubik, J. D., & Solomon, A. 2000. Security analysts' career concerns and herding of earnings forecasts. Rand Journal of Economics, 31, 121-144. Kallinterakis, V. 2007. Herding and the thin trading bias in a start-up market Evidence from Vietnam. Working paper. Retrieved from 108 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ] Kim, O., & Verrecchia, R. E. 1997. Pre-announcement and event-period private information. Journal of Accounting & Economics, 243, 395-419. Lakonishok, J., Shleifer, A., & Vishny, R. W. 1992. The impact of institutional trading on stock prices. Journal of Financial Economics, 32, 23-44. Lê, Đ. C. 2007. Tài chính hành vi và những bất thường của Thị trường chứng khoán Việt Nam. Tạp chí Phát triển Kinh tế, 201, 6-9. My, T. N., & Truong, H. H. 2011. Herding behaviour in an emerging stock market Empirical evidence from Vietnam. Research Journal of Business Management, 52, 51-76. Scharfstein, D. S., & Stein, J. C. 1990. Herd behavior and investment. American Economic Review, 80, 465-479. Trần, T. H. L. 2010. Hành vi bầy đàn trên Thị trường chứng khoán Việt Nam, một số nguyên nhân và giải pháp. Tạp chí Tài chính & Phát triển, 5, 18-25. Trueman, B. 1994. Analyst forecasts and herding behavior. Review of Financial Studies, 7, 97-124. Wermers, R. 1999. Mutual fund herding and the impact on stock prices. Journal of Finance, 54, 581-622. EVIDENCE OF TIME-VARYING HERDING BEHAVIOR FROM THE VIETNAMESE STOCK MARKET Doan Anh Tuana*, Hoang Mai Phuonga aThe Faculty of Economics and Business Administration, Dalat University, Lamdong, Vietnam *Corresponding author tuanda Article history Received April 14th , 2016 Received in revised form August 11th, 2016 Accepted October 10th, 2016 Abstract Using a regression model of the cross-sectional dispersion in stock returns, this study investigates investor herding behavior in Vietnamese stock market spanning the period from June 01, 2007 to November 30, 2015. We find that herding behavior is present in both Ho Chi Minh and Hanoi Stock Exchanges. Importantly, the results show an asymmetry in level of herding behavior in which the herding effect appears to be stronger during falling markets than during rising markets. The study also highlights important policy implications that can help to reduce investors’ complicated nonlinear reactions in the Vietnamese Stock market. Keywords Asymmetry; Herding behavior; Stock return dispersion; Vietnamese Stock market. ResearchGate has not been able to resolve any citations for this study examines the existence of herding behaviour in the Vietnamese stock market and the asymmetric effects of herding that are conditional on the direction of market movements. The evidence supports the presence of herding in the Vietnamese stock exchange with respect to different market periods and to alternative model specifications. Investor herding in this very immature stock market can be explained by a set of micro-structure characteristics typical of the Vietnamese stock market such as a lack of transparency in information and financial management, the high magnitude of market volatility and thin trading. Since herding is thought to increase the volatility of the market, the existence of herding may trigger some policy concerns about a potentially destabilizing effect on the financial market. In addition, the study indicates that upward markets have less return dispersions than downward markets. A possible implication of this finding is that investors in the Vietnamese stock market perform more uniformly in rising markets than in declining markets. William G ChristieRoger D. HuangDo equity returns indicate the presence of herd behavior on the part of investors during periods of market stress? To test this proposition, the cross-sectional standard deviation of returns, or dispersion, is used to capture herd behavior. When individual returns herd around the market consensus, dispersions are predicted to be relatively low. In contrast, rational asset pricing models predict an increase in dispersion because individual returns are repelled away from the market return when stocks differ in their sensitivity to market movements. The results for both daily and monthly returns are inconsistent with the presence of herding during periods of large price movements. For example, during extreme down markets, when herding is expected to be most prevalent, the magnitude of the increase in the dispersion of actual returns is mirrored by the increase in the dispersion of predicted returns that are estimated from a rational asset pricing document several factors that help explain cross-sectional variations in the post-revision price drift associated with analyst forecast revisions. First, the market does not make a sufficient distinction between revisions that provide new information "high-innovation" revisions and revisions that merely move toward the consensus "low-innovation" revisions. Second, the price adjustment process is faster and more complete for "celebrity" analysts Institutional Investor All-Stars than for more obscure yet highly accurate analysts Wall Street Journal Earnings-Estimators. Third, controlling for other factors, the price adjustment process is faster and more complete for firms with greater analyst coverage. Finally, a substantial portion of the delayed price adjustment occurs around subsequent earnings-announcement and forecast-revision dates. Collectively, these findings show that more subtle aspects of an earnings revision signal can hinder the efficacy of market price discovery, particularly in firms with relatively low analyst coverage, and that subsequent earnings-related news events serve as catalysts in the price discovery Bikhchandani David HirshleiferIvo WelchAn informational cascade occurs when it is optimal for an individual, having observed the actions of those ahead of him, to follow the behavior of the preceding individual with regard to his own information. The authors argue that localized conformity of behavior and the fragility of mass behaviors can be explained by informational cascades. Copyright 1992 by University of Chicago San KolmAndrea DevenowIvo WelchThis paper briefly describes recent papers on the economics of rational herding in financial markets. Some models can predict perfect herding, in which rational agents all act alike without any countervailing force. Such herding typically arises either from direct payoff externalities negative externalities in bank runs; positive externalities in the generation of trading liquidity or in information acquisition, principal-agent problems based on managerial desire to protect or signal reputation, or informational learning cascades. The paper also provides a few pointers to related literature and suggests issues to be addressed in future research. Vasileios KallinterakisResearch in behavioural finance has denoted the significant presence of herd behaviour in emerging capital markets. However, although the latter are typified by substantial levels of thin trading, its impact over the measurement of herding has been the subject of very little attention. We address this issue in the context of the Vietnamese market and our results indicate that correcting for thin trading leads to the depression of the herd's significance. Our findings are suggestive of thin trading introducing a bias over herding estimations which we interpret through existing literature evidence related to the illiquid structures of emerging KimRobert E. VerrecchiaPre-announcement information is private information gathered in anticipation of a public disclosure. Event-period information is private information useful in conjunction with the announcement itself. Typically rational models of trade are based exclusively on one type of information. Such models are less descriptive of real market settings and misspecified empirically. Therefore, we introduce a model of rational trade with both features and discuss its examine the investment behavior of market participants within different international markets US, Hong Kong, Japan, South Korea, and Taiwan, specifically with regard to their tendency to exhibit herd behavior. We find no evidence of herding on the part of market participants in the US and Hong Kong and partial evidence of herding in Japan. However, for South Korea and Taiwan, the two emerging markets in our sample, we document significant evidence of herding. The results are robust across various size-based portfolios and over time. Furthermore, macroeconomic information rather than firm-specific information tends to have a more significant impact on investor behavior in markets which exhibit herding. In all five markets, the rate of increase in security return dispersion as a function of the aggregate market return is higher in up market, relative to down market days. This is consistent with the directional asymmetry documented by McQueen et al. 1996 McQueen, G., Pinegar, Thorley, S., 1996. Journal of Finance 51, 889–919. Abhijit BanerjeeThe author analyzes a sequential decision model in which each decisionmaker looks at the decisions made by previous decisionmakers in taking her own decision. This is rational for her because these other decisionmakers may have some information that is important for her. The author then shows that the decision rules that are chosen by optimizing individuals will be characterized by herd behavior; people will be doing what others are doing rather than using their information. The author then shows that the resulting equilibrium is inefficient. Copyright 1992, the President and Fellows of Harvard College and the Massachusetts Institute of G. HongJeffrey D. KubikAmit SolomonSeveral theories of reputation and herd behavior Scharfstein and Stein 1990 and Zweibel 1995 suggest that herding among agents should vary with career concerns. Our goal is to document whether such a link exists in the labor market for security analysts. We find that inexperienced analysts are more likely to be terminated for inaccurate earnings forecasts than are their more experienced counterparts. Controlling for forecast accuracy, they are also more likely to be terminated for bold forecasts that deviate from the consensus. Consistent with these implicit incentives, we find that inexperienced analysts deviate less from consensus forecasts. Additionally, inexperienced analysts are less likely to issue timely forecasts, and they revise their forecasts more frequently. These findings are broadly consistent with existing career concern motivated herding theories.
Nghiên cứu cổ phiếu liên quan đến việc kết hợp nhiều nguồn thông tin, suy luận và chiến lược, tất cả trong khi thị trường liên tục biến đổi. Các nhà kinh doanh và đầu tư chứng khoán cần biết thông tin nào hữu ích cho họ cũng như cách hiệu quả và chính xác nhất để nghiên cứu chứng khoán. Đang xem Nghiên cứu về chứng khoán LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẮT ĐẦU VỚI NGHIÊN CỨU CỔ PHIẾU Các nhà đầu tư thận trọng thường không thực hiện đầu tư mà không có nghiên cứu trước hoặc chứng minh về lý do tại sao cổ phiếu lại hấp dẫn để mua. Nghiên cứu cổ phiếu theo nghĩa chung bắt đầu với sự hiểu biết về ba chi tiết chính về một công ty Tình hình tài chính hiện tạiĐội ngũ quản lý hiện tạiTầm nhìn và lộ trình tương lai Điều quan trọng là một điều mà nhiều nhà đầu tư không làm là điều chỉnh các giá trị của công ty với giá trị của chính họ, điều này rất quan trọng để tìm ra khoản đầu tư tốt nhất đáp ứng các mục tiêu cụ thể của họ. Do đó, lưu ý đến chiến lược đầu tư và lý do bạn muốn đầu tư vào cổ phiếu có thể giúp định hướng quá trình ra quyết định của bạn. HƯỚNG DẪN TỪNG BƯỚC ĐỂ NGHIÊN CỨU CỔ PHIẾU Cũng như hiểu được vị thế hiện tại và tương lai của một công ty, nghiên cứu cổ phiếu hiệu quả cần xem xét các yếu tố sau để giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định trong nỗ lực đạt được mục tiêu và chiến lược mong muốn Thời gian đầu tưMức độ rủi roLoại ngành / lĩnh vực cổ phiếuHiểu sản phẩm / dịch vụ của công tyBáo cáo tài chínhPhân tích đối thủ và ngànhTheo các chuyên gia trong ngànhSử dụng nền tảng nghiên cứuCác loại lệnh chứng khoánPhí môi giới 1. Thời gian đầu tư Thời gian rất quan trọng vì nó cho phép các nhà đầu tư xác định loại cổ phiếu nào có thể phù hợp với mục tiêu của họ. Ví dụ, nhiều nhà đầu tư trẻ với tầm nhìn thời gian dài sẵn sàng chấp nhận rủi ro nhiều hơn khi đề cập đến danh mục đầu tư. Những loại cá nhân này thường sẽ thích các danh mục đầu tư tích cực hơn, có thể bao gồm các cổ phiếu tăng trưởng có định giá đắt hơn. Do khoảng thời gian dài hơn, những nhà đầu tư này thường có thể chịu được những biến động lớn hơn trên thị trường. Điều ngược lại sẽ đúng đối với các khoảng thời gian ngắn hơn dưới 5 năm vì những nhà đầu tư này ít chịu đựng các khoản rút vốn lớn trong danh mục đầu tư, vì các biến động thị trường bất lợi lớn hơn có thể tạo ra hiệu ứng lâu dài cho những người sắp nghỉ hưu có thể cần sớm bắt đầu rút vốn thu nhập từ danh mục đầu tư. 2. Mức độ rủi ro Rủi ro gắn liền với thời gian khi các nhà đầu tư sử dụng hai thành phần này cùng nhau để giúp xác định loại cổ phiếu nào nên đầu tư vào. Những cá nhân ưa thích rủi ro cao hơn thường thích cổ phiếu tăng trưởng như Amazon hoặc Tesla trong khi các nhà đầu tư không thích rủi ro thường hướng tới các cổ phiếu có giá trị thường có tỷ lệ P/E thấp hơn. Những cổ phiếu có giá trị này có thể được coi là định giá thấp và có tiềm năng hấp dẫn để đầu tư dài hạn. Đánh giá mức độ rủi ro Bất kể phong cách đầu tư nào, điều quan trọng là phải thực hành quản lý rủi ro tốt để nhà đầu tư có thể hướng đến lợi ích từ chuyển động tăng giá trong khi cố gắng giảm thiểu rủi ro giảm giá. 3. Loại cổ phiếu ngành / lĩnh vực Nhiều nhà đầu tư quen thuộc với một lĩnh vực cổ phiếu nhất định có thể giúp việc nghiên cứu cổ phiếu trong lĩnh vực đó dễ dàng hơn. Hiểu biết về một ngành cho phép nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố đầu vào biến đổi và các sắc thái thường không thể lấy được từ báo cáo tài chính. Thị trường chứng khoán thường được chia thành mười một lĩnh vực, khám phá các nhóm ngành cổ phiếu để có một phương pháp cấu trúc hơn để nghiên cứu chứng khoán 4. Hiểu sản phẩm / dịch vụ của công ty Tự làm quen với sản phẩm / dịch vụ của công ty sẽ hỗ trợ trong bước phân tích đối thủ cạnh tranh sau này. Biết điều gì làm cho sản phẩm / dịch vụ của công ty trở nên độc đáo, bao gồm cả yếu tố chi phí, là yếu tố quan trọng đối với các dự báo trong tương lai. Nhiều công ty có cung cấp sản phẩm / dịch vụ đa dạng, sau đó làm cho bước này trở thành trọng tâm hơn trong việc nghiên cứu cổ phiếu. Ví dụ, với nhiều sản phẩm / dịch vụ, nhà đầu tư cần hiểu mỗi đợt chào bán ảnh hưởng như thế nào đến công ty liên quan đến chi phí, doanh thu và tiềm năng tương lai của mỗi sản phẩm / dịch vụ. 5. Báo cáo tài chính Các công ty giao dịch đại chúng công bố các báo cáo tài chính đưa ra cái nhìn tổng quan về định lượng của công ty. Chúng bao gồm báo cáo thu nhập, cung cấp lượng lớn thông tin về tình hình tài chính và hiệu suất của công ty. Từ các báo cáo được nộp công khai của công ty, các nhà đầu tư có thể xác định các dấu hiệu / rủi ro tiềm ẩn trong công ty, khả năng quản lý, quản lý nợ và nguồn thu nhập. Khám phá nền tảng của báo cáo thu nhập và cách nó phù hợp với nghiên cứu cổ phiếu Tài chính hiện tại không phải là tài liệu quan trọng duy nhất cần xem xét. Dữ liệu trong quá khứ có thể cung cấp cho các nhà đầu tư kiến thức sâu hơn và đánh giá cao hơn về nguồn gốc của một công ty cũng như cách nó phản ứng trong các điều kiện thị trường trước đây. Điều này đang được nói, phân tích cơ bản liên quan đến các kỹ thuật phức tạp và sự hiểu biết thấu đáo về các báo cáo tài chính, công thức toán học và nắm bắt tổng thể vững chắc về thị trường tài chính. Xem thêm Ứng Dụng Dịch Tiếng Anh Tốt Nhất Hiện Nay, Top 3 App Dịch Tiếng Anh Miễn Phí Hiệu Quả Nhất 6. Phân tích đối thủ và ngành Có những trường hợp thường xuyên, theo đó các công ty có các đối thủ cạnh tranh trực tiếp với các mô hình kinh doanh giống nhau / tương tự. Do đó, các nhà đầu tư nên so sánh và phân tích cổ phiếu giữa các đối thủ cạnh tranh này để tìm ra sự khác biệt có thể phát hiện thêm các cơ hội đầu tư tiềm năng. Điều này cũng áp dụng cho toàn ngành. Thông thường, có những thời điểm mà một công ty trong một ngành hoạt động tốt hơn so với ngành và các đối thủ cạnh tranh của nó, hoặc ngược lại. Tìm hiểu lý do tại sao những mô hình có vẻ khó hiểu này có thể xảy ra có thể mở rộng hiểu biết về cách một cổ phiếu hoặc ngành hoạt động trong những điều kiện nhất định. Phân tích các đối thủ trong ngành Phân tích đối thủ cạnh tranh và ngành được coi là những so sánh rõ ràng cần thực hiện khi nghiên cứu cổ phiếu, nhưng cũng có thể thận trọng khi phân tích các thị trường khác. Ví dụ Royal Dutch Shell Plc có thể thực hiện phân tích đối thủ cạnh tranh trực tiếp chống lại một công ty như BP Plc, nhưng một so sánh khác có thể là phủ các công ty này với giá dầu cơ bản. Mặt hàng chính dầu này có liên quan nhiều đến mô hình kinh doanh, do đó nhìn ra bên ngoài phạm vi thị trường chứng khoán có thể khám phá ra một số thông tin chi tiết có giá trị. 7. Theo các chuyên gia trong ngành Một cách tuyệt vời để nghiên cứu cổ phiếu là theo dõi các chuyên gia trong ngành, chẳng hạn như các nhà phân tích cổ phiếu được đánh giá cao. Các chuyên gia này thường xuất bản các nghiên cứu chuyên sâu về chứng khoán, đây có thể là một cách tốt để đưa ra so sánh giữa phân tích cá nhân và chuyên gia. Đây cũng là một cách tốt để các nhà đầu tư mở rộng các kỹ thuật phân tích vốn chủ sở hữu bằng cách nghiên cứu cách tiếp cận của nhà phân tích và những gì họ tìm kiếm khi đưa ra quyết định đầu tư. 8. Nền tảng và thiết bị nghiên cứu Việc sử dụng các nền tảng và thiết bị đầu cuối nghiên cứu như Bloomberg có thể cung cấp cho các nhà đầu tư / nhà phân tích rất nhiều công cụ và kỹ thuật phân tích bổ sung. Những điều này có thể giúp các nhà đầu tư hiệu quả và tiếp cận nhiều thị trường tài chính và cổ phiếu khác cho các mục đích so sánh. Các công cụ định lượng cũng có sẵn trên các nền tảng như vậy cho các loại phân tích phức tạp hơn. Những nền tảng này có thể tốn kém, vì vậy trước khi đầu tư vào một nền tảng, nhà đầu tư nên đảm bảo cân nhắc yếu tố chi phí so với lợi ích mong đợi của họ. 9. Các loại lệnh chứng khoán Sau khi nghiên cứu cổ phiếu hoàn thành, nhà đầu tư sẽ cần đặt lệnh mua cổ phiếu. Biết các loại lệnh hoạt động như thế nào trên thị trường chứng khoán có thể giúp các nhà đầu tư tập trung tốt hơn vào việc thực hiện các chiến lược của họ. Tính thanh khoản là một khái niệm khác có thể dẫn đến chênh lệch và định giá khác nhau. Tính thanh khoản của thị trường chứng khoán đề cập đến sự dễ dàng mà cổ phiếu của công ty có thể được mua và vững chắc mà không gặp biến động giá lớn. Các công ty lớn có tính thanh khoản cao như Apple Inc thường sẽ có mức chênh lệch chặt chẽ hơn với khối lượng cổ phiếu lớn hơn có thể mua / bán ở một mức giá nhất định. 10. Phí môi giới Một phần quan trọng nhưng thường bị bỏ qua của quá trình đầu tư chứng khoán là phí môi giới hoặc hoa hồng. Các nhà môi giới có các mức phí khác nhau, vì vậy các nhà đầu tư nên làm quen với các khoản phí để tránh bất kỳ bất ngờ không mong muốn nào. Những điều này phải có sẵn trên trang web của nhà môi giới và phải minh bạch. Xem thêm Mách Bạn 7 Cách Làm Giảm Đau Họng Tại Nhà Đơn Giản An Toàn, 12 Mẹo Chữa Viêm Họng Đơn Giản, Hiệu Quả Tại Nhà LÀM THẾ NÀO ĐỂ NGHIÊN CỨU VỀ CỔ PHIẾU NỘI DUNG CHÍNH Các nhà đầu tư có thể mua cổ phiếu sau khi đã nghiên cứu cổ phiếu kỹ lưỡng; và tính đến càng nhiều biến số càng tốt có thể giúp nhà đầu tư đi đến quyết định đầu tư đúng đắn hơn. Việc này có thể mất nhiều giờ làm việc nhưng hy sinh thời gian sẽ giúp các nhà đầu tư đưa ra quyết định sáng suốt hơn. Hãy ghi nhớ các bước nêu trên để giúp hợp lý hóa quy trình nghiên cứu chứng khoán và áp dụng các phương pháp quản lý danh mục đầu tư phù hợp.
các đề tài nghiên cứu về chứng khoán