các đề văn so sánh lớp 12
Đề thi đi kèm đáp án giúp các em so sánh kết Mời các bạn học sinh lớp 12 cùng tham khảo “Đề thi giữa học kì 1 môn Vật lí lớp 12 năm 2021-2022 có đáp án - Trường THPT Dĩ An” dưới đây làm tài liệu ôn tập hệ thống kiến thức chuẩn bị cho bài thi giữa kì 1 sắp tới.
Mấy vấn đề văn hóa trong cách xưng hô của người Việt. Báo cáo tại hội nghị về Các vấn đề Văn hóa Việt Nam, Tp Hồ Chí Minh. Quách Gian Khánh, 2005. Tiếng Hán và văn hóa giao tiếp. Nxb Đại học Giao Thông, Thượng Hải, Trung Quốc. 2002. Giáo trình phiên dịch tiếng Việt
Tổng hợp Tài liệu môn Tiếng Anh, chuyên đề 11-so sánh - comparison-anh 12. Giáo án, Đề thi thử file word mới nhất. Đề thi giữa kỳ, Đề thi THCS, THPT các môn Toán, Lý, Hoá , Sinh, Văn, Sử, Địa, Tiếng Anh, GDCD Giáo án lớp 5, lớp 6, lớp 7, lớp 8, lớp 9, lớp 10, lớp 11, lớp 12
App Vay Tiền Nhanh. 1. Các dạng đề so sánh văn học thường gặp - So sánh hai chi tiết trong hai tác phẩm văn học - So sánh hai đoạn thơ - Sosánh hai đoạn văn - So sánh hai nhân vật - So sánh cách kết thúc hai tác phẩm -So sánh, đánh giá hai lời nhận định về một tác phẩm 2. Hướng dẫn cách làm dạng đề so sánh văn học Đứng trước một đề văn thường có rất nhiều cách triển khai, giải quyết vấn đề, song đối với kiểu đề so sánh văn học dù là ở dạng so sánh hai chi tiết, hai đoạn thơ, hai đoạnh văn, hay hai nhân vật .... phương pháp làm bài văn dạng này thông thường có hai cách - Nối tiếp Lần lượt phân tích hai văn bản rồi chỉ ra điểm giống và khác nhau - Song song Tìm ra các luận điểm giống và khác nhau rồi lần lượt phân tích từng luận điểm kết hợpvới việc lấy song song dẫn chứng của cả hai văn bản minh họa. a. Cách 1 Phân tích theo kiểu nối tiếp. Đây là cách làm bài phổ biến của học sinh khi tiếp cận với dạng đề này, cũng là cách mà Bộ giáo dục và đào tạo định hướng trong đáp án đề thi. Ưu điểm cách làm này là dễ dàng triển khai các luận điểm trong bài viết, bài viết rõ ràng, không rối kiến thức. Nhược điểm phần nhận xét điểm giống và khác nhau nếu bạn không thành thạo kĩ năng, nắm chắc kiến thức sẽ viết lặp lại những gì đã phân tích ở trên hoặc suy diễn một cách tùy tiện. Mô hình khái quát của kiểu bài này như sau Mở bài - Dẫn dắt mở bài trực tiếp không cần bước này- Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh Thân bài - Làm rõ đối tượng so sánh thứ 1 - Làm rõ đối tượng so sánh thứ 2 - So sánh Nhận xét nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả các bình diện như chủ đề, nội dung hình thức nghệ thuật Lý giải sự khác biệt Thực hiện thao tác này cần dựa vào các bình diện bối cảnh xã hội, văn hóa mà từng đối tượng tồn tại; phong cách nhà văn; đặc trưng thi pháp của thời kì văn học Kết bài - Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu - Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân. b. Cách 2 Phân tích song song được hiểu song hành so sánh trên mọi bình diện của hai đối này hay nhưng khó, đòi hỏi khả năng tư duy chặt chẽ, lôgic,sự tinh nhạy trong phát hiện vấn đề học sinh mới tìm được luận diểm của bài viết và lựa chọn những dẫn chứng tiêu biểu phù hợp của cả hai văn bản để chứng minh cho luận điểm đó. Mở bài - Dẫn dắt mở bài trực tiếp không cần bước này - Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh Thân bài - Điểm giống nhau Luận điểm 1 lấy dẫn chứng cả hai văn bản Luận điểm 1 lấy dẫn chứng cả hai văn bản Luận điểm ..... - Điểm khác nhau Luận điểm 1 lấy dẫn chứng cả hai văn bản Luận điểm 1 lấy dẫn chứng cả hai văn bản Luận điểm..... Kết bài - Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu - Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân. ==> Kết luận Hai cách làm bài của kiểu đề so sánh văn học là vậy, mỗi cách làm đều có mặt mạnh, mặt yếu khác nhau. Trong thực tế không phải đề nào chúng ta cũng có thể áp dụng theo đúng khuôn mẫu cách làm như đã trình bày ở trên. Phải tùy thuộc vào cách hỏi trong mỗi đề cụ thể mà ta áp dụng theo cách nào và áp dụng sao cho linh hoạt, phù hợp. Cũng có khi vận dụng đầy đủ các ý của phần thân bài,cũng có khi phải cắt bỏ một phần cho hợp với yêu cầu trọng tâm của đề, hay dụng ý của người viết. Tham khảo thêm nhiều đê thi thử môn Văn các trường THPT dạng bài so sánh, tại đây 3. Một số đề cụ thể Đề 1 So sánh hai hình tượng nhân vật Mị trong tác phẩm Vợ chồng A phủ và người đàn bà trong tác phẩm Vợ nhặt. Đề 2 Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của hình tượng sông Đà trong tác phẩm “Người lái đò sông Đà” – Nguyễn Tuân và hình tượng sông Hương trong tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” – Hoàng Phủ Ngọc Tường. Từ đó, trình bày suy nghĩ của mình về việc bảo vệ cảnh quan thiên nhiên của quê hương, đất nước.
Bạn đang xem tài liệu "Gợi ý làm dạng bài so sánh văn học", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trênGợi ý làm DẠNG BÀI SO SÁNH VĂN HỌC Gần đây, trong các đề thi tuyển sinh đại học, cao đẳng, ở câu 5 điểm, đề bài thường ra kiểu bài so sánh văn họcđề thi tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2007-2008, 2008-2009. Đây là một kiểu bài mới, chưa được cụ thể hóa thành một bài học riêng trong chương trình Ngữ văn bậc trung học phổ thông, do đó đã ảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng làm bài của học sinh cũng như quá trình định hướng ôn tập cho học sinh từ phía giáo viên. Góp phần tháo gỡ những khó khăn trên, bài viết này xin đưa ra một số gợi ý để cùng các em ôn tập, phục vụ cho mùa thi 2009-2010. 1. Khái niệm so sánh văn học cần phải được hiểu theo ba lớp nghĩa khác nhau. Thứ nhất, so sánh văn học là “một biện pháp tu từ để tạo hình ảnh cho câu văn”1 . Thứ hai, nó được xem như một thao tác lập luận cạnh các thao tác lập luận như phân tích, bác bỏ, bình luận đã được đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn 11. Thứ ba, nó được xem như “một phương pháp, một cách thức trình bày khi viết bài nghị luận”2, tức là như một kiểu bài nghị luận cạnh các kiểu bài nghị luận về một đoạn trích, tác phẩm thơ; nghị luận về một đoạn trích, tác phẩm văn xuôi ở sách giáo khoa Ngữ văn 12. Tuy nhiên, so sánh văn học như một kiểu bài nghị luận văn học lại chưa được cụ thể bằng một bài học độc lập. Vì vậy, từ việc xác lập nội hàm khái niệm kiểu bài, mục đích, yêu cầu, đến cách thức làm bài cho kiểu bài này thực sự rất cần thiết. 2. Kiểu bài so sánh văn học yêu cầu thực hiện cách thức so sánh trên nhiều bình diện đề tài, nhân vật, tình huống, cốt truyện, cái tôi trữ tình, chi tiết nghệ thuật, nghệ thuật trần thuật Quá trình so sánh có thể chỉ diễn ra ở các tác phẩm của cùng một tác giả, nhưng cũng có thể diễn ra ở những tác phẩm của các tác giả cùng hoặc không cùng một thời đại, giữa các tác phẩm của những trào lưu, trường phái khác nhau của một nền văn học. Mục đích cuối cùng của kiểu bài này là yêu cầu học sinh chỉ ra được chỗ giống và khác nhau giữa hai tác phẩm, hai tác giả, từ đó thấy được những mặt kế thừa, những điểm cách tân của từng tác giả, từng tác phẩm; thấy được vẻ đẹp riêng của từng tác phẩm; sự đa dạng muôn màu của phong cách nhà văn. Không dừng lại ở đó, kiểu bài này còn góp phần hình thành kĩ năng lí giải nguyên nhân của sự khác nhau giữa các hiện tượng văn học – một năng lực rất cần thiết góp phần tránh đi khuynh hướng “bình tán”, khuôn sáo trong các bài văn của học sinh hiện nay. Lẽ hiển nhiên, đối với đối tượng học sinh trung học phổ thông, các yêu cầu về năng lực lí giải cần phải hợp lí, vừa sức. Nghĩa là các tiêu chí so sánh cần có mức độ khó vừa phải, khả năng lí giải sự giống và khác nhau cũng cần phải tính toán hợp lí với năng lực của các em. Chuẩn kiến thức, chuẩn kĩ năng trong từng bài, từng cấp học sẽ là căn cứ để kiểm định những vấn đề này. 3. Vì là một bài nghị luận nên bố cục một bài văn so sánh văn học cũng có 3 phần mở bài, thân bài và kết bài. Tuy nhiên chức năng cụ thể của từng phần lại có những điểm khác biệt so với kiểu bài nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích thơ hay nghị luận về một đoạn trích, tác phẩm văn xuôi. Dàn ý khái quát của kiểu bài này như sau MỞ BÀI - Dẫn dắt mở bài trực tiếp không cần bước này - Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh THÂN BÀI 1. Làm rõ đối tượng thứ nhất bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích 2. Làm rõ đối tượng thứ 2 bước này vận kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích 3. So sánh nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả hai bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích và thao tác lập luận so sánh 4. Lý giải sự khác biệt thực hiện thao tác này cần dựa vào các bình diện bối cảnh xã hội, văn hóa mà từng đối tượng tồn tại; phong cách nhà văn; đặc trưng thi pháp của thời kì văn học bước này vận nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích KẾT BÀI - Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu - Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân. Bây giờ thử kiểm định dàn bài trên bằng cách so sánh với đáp án câu - Đề thi tuyển sinh đại học – cao đẳng năm 2009, khối C như sau Câu Theo chương trình Chuẩn 5,0 điểm Cảm nhận của anh/chị về những vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người vợ nhặt Vợ nhặt - Kim Lân và nhân vật người đàn bà hàng chài Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu. MỞ BÀI Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh Giới thiệu khái quát về hai nhân vật trong hai tác phẩm - Kim Lân là nhà văn chuyên viết về nông thôn và cuộc sống người dân quê, có sở trường về truyện ngắn. Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc, viết về tình huống "nhặt vợ" độc đáo, qua đó thể hiện niềm tin mãnh liệt vào phẩm chất tốt đẹp của những con người bình dị trong nạn đói thê thảm. - Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiêu biểu thời chống Mĩ, cũng là cây bút tiên phong thời đổi mới. Chiếc thuyền ngoài xa là truyện ngắn xuất sắc ở thời kì sau, viết về lần giáp mặt của một nghệ sĩ với cuộc sống đầy nghịch lí của một gia đình hàng chài, qua đó thể hiện lòng xót thương, nỗi lo âu đối với con người và những trăn trở về trách nhiệm của người nghệ sĩ. THÂN BÀI 1. Làm rõ đối tượng thứ nhất bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích Nhân vật người vợ nhặt - Giới thiệu chung Tuy không được miêu tả thật nhiều nhưng người vợ nhặt vẫn là một trong ba nhân vật quan trọng của tác phẩm. Nhân vật này được khắc hoạ sống động, theo lối đối lập giữa bề ngoài và bên trong, ban đầu và về sau. - Một số vẻ đẹp khuất lấp tiêu biểu + Phía sau tình cảnh trôi dạt, vất vưởng, là một lòng ham sống mãnh liệt. + Phía sau vẻ nhếch nhác, dơ dáng, lại là một người biết điều, ý tứ. + Bên trong vẻ chao chát, chỏng lỏn, lại là một người phụ nữ hiền hậu, đúng mực, biết lo toan. 2. Làm rõ đối tượng thứ 2 bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích Nhân vật người đàn bà chài - Giới thiệu chung Là nhân vật chính, có vai trò quan trọng với việc thể hiện tư tưởng của tác phẩm. Nhân vật này được khắc hoạ sắc nét, theo lối tương phản giữa bề ngoài và bên trong, giữa thân phận và phẩm chất. - Một số vẻ đẹp khuất lấp tiêu biểu + Bên trong ngoại hình xấu xí, thô kệch là một tấm lòng nhân hậu, vị tha, độ lượng, giàu đức hi sinh. + Phía sau vẻ cam chịu, nhẫn nhục vẫn là một người có khát vọng hạnh phúc, can đảm, cứng cỏi. + Phía sau vẻ quê mùa, thất học lại là một người phụ nữ thấu hiểu, sâu sắc lẽ đời. 3. So sánh nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả hai bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích, so sánh So sánh nét tương đồng, khác biệt - Tương đồng Cả hai nhân vật đều là những thân phận bé nhỏ, nạn nhân của hoàn cảnh. Những vẻ đẹp đáng trân trọng của họ đều bị đời sống cơ cực lam lũ làm khuất lấp. Cả hai đều được khắc hoạ bằng những chi tiết chân thực... - Khác biệt Vẻ đẹp được thể hiện ở nhân vật người vợ nhặt chủ yếu là những phẩm chất của một nàng dâu mới, hiện lên qua các chi tiết đầy dư vị hóm hỉnh, trong nạn đói thê thảm. Vẻ đẹp được khắc sâu ở người đàn bà hàng chài là những phẩm chất của một người mẹ nặng gánh mưu sinh, hiện lên qua các chi tiết đầy kịch tính, trong tình trạng bạo lực gia đình... 4. Lý giải sự khác biệt Thực hiện thao tác này cần dựa vào các bình diện bối cảnh xã hội, văn hóa mà từng đối tượng tồn tại; phong cách nhà văn; đặc trưng thi pháp của thời kì văn học bước này vận nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích + Vẻ đẹp khuất lấp của người vợ nhặt được đặt trong quá trình phát triển, biến đổi từ thấp đến caocảm hứng lãng mạn, trong khi đó người đàn bà chài lưới lại tĩnh tại, bất biến như một hiện thực nhức nhối đang tồn tạicảm hứng thế sự-đời tư trong khuynh hướng nhận thức lại + Sự khác biệt giữa quan niệm con người giai cấp Vợ nhặt với quan niệm con người đa dạng, phức tạp Chiếc thuyền ngoài xa đã tạo ra sự khác biệt này có thể có thêm nhiều ý khác, tùy thuộc mức độ phân hóa của đề thi KẾT BÀI - Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu. - Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân. Học sinh dựa vào gợi ý bên để viết kết bài. Có nhiều cách kết bài khác nhau, hướng dẫn bên chỉ có tính chất tham khảo Bảng so sánh trên đây đã chỉ ra rằng, dàn bài khái quát mà chúng tôi đề xuất về cơ bản đã thể hiện được một cách tuần tự hệ thống ý trong đáp án của đề thi tuyển sinh đại học khối C năm 2009. Tiếc rằng, trong đáp án của đề thi tuyển sinh đại học khối C năm 2009 lại chưa yêu cầu so sánh về nghệ thuật xây dựng nhân vật và yêu cầu lí giải về nguyên nhân của sự khác biệt giữa hai nhân vật là do đâu Từ mục 4 của phần thân bài là bổ sung của chúng tôi. Rất có thể, hội đồng ra đề thi đã ý thức rằng, nếu thêm phần này vào đáp án sẽ là “quá sức” đối với học sinh vì rằng để trả lời cho câu hỏi này, học sinh phải bám sát vào đặc điểm hoàn cảnh lịch sử xã hội, văn hóa; phải bám vào đặc trưng thi pháp, phong cách nhà vănTheo chúng tôi, kiểu bài so sánh văn học cần phải có thêm hai mục này và đối với đề thi khối C yêu cầu ở đáp án có mức độ khó cao hơn các khối khác. Có như vậy mới đánh giá đúng năng lực của học sinh thi vào khối C đề của khối C thường khó hơn so với các khối khác có thi môn ngữ văn. Hơn thế, trong quá trình thực hiện yêu cầu phân hóa trong việc ra đề thi thì yêu cầu này hơn bao giờ hết cần phải được chú trọng. Trong quá trình làm bài, học sinh không nhất thiết phải tuân thủ nghiêm ngặt qui trình trên. Có thể phối hợp nhiều bước cùng một lúc. Chẳng hạn, có thể đồng thời vừa phân tích làm rõ, vừa thực hiện nhiệm vụ so sánh trên hai bình diện nội dung và nghệ thuật, vừa lí giải nguyên nhân vì sao khác nhau. Hoặc chỉ trong bước so sánh, học sinh có thể kết hợp vừa so sánh vừa lí giải. Tuy nhiên, nếu thực hiện theo cách này thì bài viết không khéo sẽ rơi vào rối rắm, luẩn quẩn. Tốt nhất là thực hiện tuần tự như trong dàn ý khái quát. 4. Như chúng tôi đã trình bày, kiểu bài so sánh văn học có yêu cầu so sánh khá phong phú, đa dạng khó có thể tìm ra một dàn bài khái quát thỏa mãn tất cả các dạng đề bài. Trong yêu cầu của từng đề bài cụ thể thuộc kiểu bài này, học sinh cần linh hoạt, sáng tạo. Vấn đề cốt tủy của mọi bài nghị luận là làm thế nào để vừa “trúng” vừa “hay”. Nguyên tắc trình bày một bài nghị luận so sánh văn học cũng không đi ra ngoài mục đích đó vậy. Nguồn Báo GDTĐ
Trong các đề thi môn Ngữ văn, câu hỏi chiếm số điểm lớn nhất từ 5 cho đến 7 điểm, đó chính là nghị luận văn học. Có nhiều các bài văn nghị luận văn học như dạng phân tích tác phẩm văn học, có thể là một tác phẩm hoàn chỉnh hoặc một đoạn văn, đoạn thơ nhất định; dạng phân tích hình tượng văn học nhân vật, hình ảnh, tình huống truyện,…. Và cuối cùng, dạng bài khó nhất đó chính là so sánh 2 tác phẩm với nhau. Dưới đây là hướng dẫn xây dựng dàn ý chung cho các bài văn nghị luận văn học dạng so sánh 2 tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 12Văn mẫu 12 Viết bài nghị luận văn học Sóng của Xuân Quỳnh chi tiết từng khổTây Tiến Văn 12 - Tổng hợp đề nghị luận văn học thường gặpThế nào là một bài văn nghị luận văn học so sánh 2 tác phẩm?Định nghĩaSo sánh 2 tác phẩm là thao tác dùng các đặc điểm một đối tượng để làm nổi bật đặc điểm của một đối tượng khác có những nét tương đồng. Trong dạng đề so sánh văn học, hai đối tượng được so sánh sẽ được đặt trong mối tương quan ngang bằng, cả hai có chức năng như nhauĐối tượng so sánh có thể là một đoạn trong tác phẩm. Ví dụ so sánh đoạn mở đầu/ đoạn kết thúc của hai tác phẩm. Hoặc hai hình ảnh có tính tương đồng ví dụ cảnh chiều tà, cảnh bình minh,.... Ngoài ra so sánh hai nhân vật cũng được xếp vào dạng bài nàyPhân biệt với dạng đề liên hệ văn họcCòn với dạng đề liên hệ, chúng ta phải xác định đâu là đối tượng chính, đâu là đối tượng phụ. Trong các dạng đề nghị luận văn học lớp 12 thì đây là dạng văn khó nhất. Nó không chỉ đòi hỏi học sinh phải nắm vững và phân tích được văn bản mà còn hiểu sâu và tiến hành phân tích so sánh dược chung với văn học, khi đi phân tích, bình giảng những đoạn thơ, đoạn văn, chi tiết nghệ thuật, nhân vật, hành động kịch,… chúng ta đều có thể sử dụng thao tác liên hệ để tạo ra chiều sâu cho tác phẩm. Ví dụ như, khi phân tích hai khổ thơ 3 và 4 của bài thơ “Sóng”, chúng ta có thể có rất nhiều ngữ liệu để liên hệ4 bước làm các bài văn nghị luận văn học dạng đề so sánh 2 tác phẩmKhi tiếp cận và xử lí các bài văn nghị luận văn học thuộc dạng bài so sánh 2 tác phẩm, các em cần tuân thủ 4 bước làm bài như sauBước 1 Phân tích em lấy bút gạch ra những từ khóa trong đề bài để xác định chính xác đối tượng chính và đối tượng liên hệ mà đề bài yêu cầu. Sau đó, nhanh chóng khoanh vùng kiến thức đối tượng nằm ở phần nào của tác phẩm, nói về điều gì để hình dung được ý đồ của người ra đề và tìm ý đúng, trúng. Đồng thời, xác định những yêu cầu cần thực hiện của đề bàiBước 2 Viết mở bàiNêu lên vấn đề Cố gắng tìm ra những điểm chung của các đối tượng để dẫn dắt, giới thiệu tập trung vào đối tượng chính. Các em có thể áp dụng các cách mở bài chung cho nghị luận văn học sau đó thêm những điểm chung của các đối tượng vào cuối cùng để dẫn dắt sang phần thân bàiBước 3 Viết thân bàiGiới thiệu tác giả, tác phẩm của hai đối tượngGiới thiệu vấn đề được đặt ra từ các đối tượng văn họcLàm rõ đối tượng thứ nhấtLiên hệ với đối tượng thứ hai để làm nổi bật yêu cầu đề bàiChỉ ra và lí giải sự giống và khác giữa các đối tượng để làm nổi bật đối tượng chính hoặc yêu cầu của đề bài.Nếu có những vấn đề được đặt ra từ các đối tượng văn học thì cần làm sáng tỏ qua việc soi chiếu vấn đề ấy vào đối tượngBước 4 Viết kết bàiĐánh giá chung về nội dung và nghệ thuật, khẳng định lại vấn đềChữa dàn ý các bài văn nghị luận văn học dạng đề liên hệ văn họcPhân tích đoạn kết của vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ. Từ đó liên hệ với đoạn kết truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao để nhận xét về đặc sắc trong cách viết của hai tác Vài nét về tác giả, tác phẩmLưu Quang Vũ 1948 - 1988 được xem là một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại với hàng loạt những vở kịch gây chấn động dư luận. Tác phẩm là một trong những vở kịch đặc sắc nhất của ông. Vở kịch sáng tác năm 1981, đến năm 1984 mới ra mắt công chúng. Đoạn trích nằm ở cảnh VII và màn kết của tác Phân tích đoạn kết của vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịtKhung cảnh hạnh phúc, sum vầy ấm áp “cu Tị đang ôm chầm lấy mẹ, chị Lụa cuống quýt vuốt ve, hai đứa trẻ ăn chung trái Ba trở về “giữa màu xanh cây lá trong vườn”; ông nói với vợ “Tôi vẫn ở liền ngay bên bà đây, ngay trên bậc cửa nhà ta, trong ánh lửa bà nấu cơm, cầu ao bà vo gạo, trong cái cơi bà đựng trầu, con dao bà giẫy cỏ...Không phải mượn thân ai cả, tôi vẫn ở đây, trong vườn cây nhà ta, trong những điều tốt lành của cuộc đời, trong mỗi trái cây cái Gái nâng niu...Khi Trương Ba không còn sống trong tình trạng “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo ” nữa lại là lúc ông được sống trong sự gần gũi, trong tình thương yêu của người Gái gieo hạt na xuống và nói “Cho nó mọc thành cây mới. Ông nội tớ bảo vậy. Những cây sẽ nối nhau mà lớn khôn. Mãi mãi…”. Điều này thể hiện ý nghĩa Những hành động, những lời nói tốt đẹp như của Trương Ba sẽ có tác dụng giáo dục lâu dài cho những thế hệ sau và những điều tốt lành ấy sẽ được tiếp nối, phát huy như một giá trị vĩnh hằng của đời Đánh giáĐoạn kết đã truyền đi thông điệp về sự chiến thắng của cái Thiện, cái Đẹp và của sự sống đích thực. Từ đó gieo một niềm tin rằng những con người cao quý như ông vẫn có mặt đâu đó giữa cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Góp phần tạo nên chất thơ sâu lắng cho vở kịch mang không khí ấm áp, toát lên niềm vui của sự đoàn tụ, tiếp nối; đem lại âm hưởng thanh thoát, lạc quan cho vở Liên hệ so sánh các bài văn nghị luận văn học trong đề bài Hồn Trương Ba, da hàng thịt và Chí là những kết thúc mở, khơi gợi nhiều ý nghĩa sâu vai trò hoàn kết số phận của nhân vật, tô đậm một phương diện nào đó của nhân với những hình ảnh/ chi tiết giàu sức TRƯƠNG BA DA HÀNG THỊTGóp phần tô đậm ý nghĩa của nhân vật Trương cục theo chiều hướng tích cực, đem lại chiều sâu triết lí nhân sinh cho tác kết thúc sáng tạo của tác giả so với cốt truyện dân PHÈOGóp phần tô đậm bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của nhân cục theo chiều hướng tiêu cực, gợi mở sự bế tắc trong số phận người nông với kết cấu vòng tròn độc chung, trong số các bài văn nghị luận văn học trong chương trình Ngữ văn THPT, dạng bài liên hệ văn học đòi hỏi học sinh phải có được một nền tảng kiến thức tương đối vững vàng. Từ đó áp dụng đúng các bước trong dàn ý 4 bước phía trên, chắc chắn rằng dạng bài này sẽ không còn là khó khăn với các em học sinh nữa.
các đề văn so sánh lớp 12